VÉN MÀN BÍ MẬT VỤ ÁN HUYỀN NHƯ VÀ VỤ ÁN NGUYỄN ĐỨC KIÊN (KỲ I)

Lý Hồng Mạnh

31-05-2015

Đôi lời của tác giả: Công trình nghiên cứu dành cho dân oan Việt Nam mà tôi tiến hành thời gian một năm qua, cho thấy những người đang nắm trọng trách cầm cân nẩy mực của chúng ta hiện nay thật đáng lo ngại – thể hiện qua vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và Nguyễn Đức Kiên.

Hôm nay, nhân kỷ niệm tròn một năm, đến ngày Nguyễn Đức Kiên nói lời sau cùng tại phiên tòa sơ thẩm tại Hà Nội (02/06/2014 – 02/06/2015) – Tôi đã hoàn thành loạt bài viết nhan đề: Vén màn bí mật vụ án Huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên, gồm bản báo cáo kỳ 1kỳ 2, kỳ 3.

Bản báo cáo kỳ 1:  Nội dung dẫn chứng, phân tích, chứng minh, nhận định về các vấn đề trọng yếu của vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và mối liên hệ đến vụ án Nguyễn Đức Kiên. Điểm mấu chốt trong nội dung này là các cơ quan tố tụng hình sự đã không vận dụng Luật kế toán 2003 để phân định đúng sai cho vụ án, có dấu hiệu: làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra bản án sai lệch gây oan sai cho các bị can, bị cáo….

Bản báo cáo kỳ 2: Nội dung dẫn chứng, phân tích, chứng minh, nhận định Nguyễn Đức Kiên có dấu hiệu bị oan, sai trong tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bản báo cáo kỳ 3: Nội dung trình bày lại toàn văn lời nói sau cùng của Nguyễn Đức Kiên ngày 02/06/2014 ở phiên tòa sơ thẩm tại Hà Nội – Điều mà hiện nay, chưa có “bản báo” nào đăng tải một cách đầy đủ và rõ ràng.

Dành trọn một năm với tất cả tâm huyết, để làm sao giải phóng được cho dân oan đang bị tù đày trong các nhà tù ở Việt Nam – đó là mục tiêu thúc đẩy để tôi viết loạt bài này.

Mời xem bản gốc tại đây: Vén màn bí mật-kỳ 1

KỲ 1: NHỮNG NHẬN ĐỊNH VÀ CHỨNG MINH QUAN TRỌNG VỀ VỤ ÁN HUYỀN NHƯ, VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI VỤ ÁN NGUYỄN ĐỨC KIÊN

  1. DẪN NHẬP

Vụ án Nguyễn Đức Kiên (là cách gọi tắt của vụ án Nguyễn Đức Kiên và một số nhân vật – cựu lãnh đạo ngân hàng TMCP Á Châu – ACB).

Vụ án Huyền Như (là cách gọi tắt của vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và một số cựu cán bộ, nhân viên ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Vietinbank, cùng một số đối tượng khác).

Loạt bài viết của chúng tôi gồm 3 kỳ: Bản báo cáo kỳ 1 này, các bạn đang đọc. Bản báo cáo kỳ 2 với chủ đề: Dấu hiệu Nguyễn Đức Kiên bị oan, sai trong tội danh ‘lừa đảo chiếm đoạt tài sản’Bản báo cáo kỳ 3 với chủ đề: “Xin Ông thẩm phán cho tôi được nói đầy đủ” – Đây là, toàn văn lời nói sau cùng của Nguyễn Đức Kiên (chúng tôi phục hồi đạt tỷ lệ 99,95 % từ video), trình bày tại phiên tòa sơ thẩm tại Hà nội ngày 02/6/2014.

Giới hạn phạm vi:

Trong bản báo cáo kỳ 1 này, chúng tôi trình bày quan điểm trọng yếu trong quá trình tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1). Đồng thời, đi sâu xem xét nội dung ngân hàng ACB ủy thác tiền gửi cho các nhân viên ACB, sau đó bị Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm để dùng vào việc lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank. Những sự việc khác của vụ án, chúng tôi sẽ trình bày thêm (trong phạm vi hẹp). Căn cứ vào báo cáo này, bạn đọc có thể nghiên cứu ứng dụng cho những vụ việc tương tự khác. Ngoài ra, bản báo cáo kỳ 1 này, cũng nhằm trọng tâm cho việc tham khảo, định hướng cho tiến trình tố tụng hình sự cấp Giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Đức kiên và vụ án Huyền Như (vòng 1), cũng như tiến trình tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 2), góp phần xử lý đúng người, đúng sai phạm, tránh gây ra oan sai, giải oan cho những người bị kết án oan. Trong quá trình này, việc chỉ ra các lỗi (sai sót) của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự là bắt buộc mà không thể né tránh.

Ngôn từ và ngữ nghĩa trong báo cáo này được chúng tôi trình bày cẩn trọng, tra cứu từ điển, bám sát các điều khoản của pháp luật, cập nhật kiến thức cơ bản về chuyên môn trong một thể thống nhất và liên hoàn giữa các bộ luật. Dùng danh từ “dấu hiệu”để chỉ báo sự việc cụ thể hoặc nghi vấn. Các nhận định mang tính khái quát cao – Do đó, sẽ giúp cho các Luật sư và các Cán bộ tố tụng hình sự đối chiếu lại với chi tiết hồ sơ vụ án, để đánh giá sự việc cho chuẩn xác. Chúng tôi cũng dùng “giả định” về các tình huống và các kịch bản để mô phỏng sự việc và nghi vấn. Nếu các “giả định” về tình huống và kịch bản của chúng tôi phản ánh đúng sự thật khách quan (từ 80 % trở lên), thì đó là thành công cho công lý.

Các từ, cụm từ đặt trong dấu ngoặc kép, là trích dẫn nguyên văn từ nguồn thông tin, hoặc là các ngôn từ đã được tra cứu từ điển, hoặc là các ngôn từ thông dụng.

Khó khăn và thuận lợi trong quá trình viết báo cáo.

Trong bản báo cáo này, nếu còn những sơ suất không thể tránh khỏi, mong bạn đọc thông cảm cho chúng tôi bởi các lý do sau đây:

Chúng tôi gặp khó khăn thứ nhất, là phải sưu tầm và đọc lướt qua tất cả các bài báo tường thuật về vụ án Huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên để tìm ra những bài báo có nội dung tốt nhất, phân loại các bài báo được chọn (không bỏ qua một manh mối nào). Phải nói là có sức siêu phàm, để tranh đấu cho người bị phạt tù oan sai – Chứ bình thường, chỉ đọc khoảng chục bài báo liên tiếp là đã thấy choáng.

Khó khăn thứ hai, là phải hành văn mạch lạc, chau chuốt vuốt ve (viết để rồi xóa đi, viết lại rất nhiều lần) để biến những thứ thô kệch, cộc lốc của pháp luật và kinh tế thành thứ văn xuôi mà mọi người có thể đọc được nhẹ nhàng.

Khó khăn thứ ba: Chúng tôi bắt đầu loạt bài viết này từ khi đọc lời nói sau cùng của Nguyễn Đức Kiên tại phiên tòa sơ thẩm ngày 02/6/2014 tại Hà Nội, đến nay đã kéo dài tròn một năm. Nhưng chúng tôi vẫn cần mẫn làm việc, liên tục điều chỉnh nội dung báo cáo, bám sát các tình tiết mới nhất của vụ án được phản ánh trên báo chí. Đó, chính là sự phụ thuộc vào tin tức cập nhật mới nhất của vụ án – Lần cập nhật sau cùng, cho loạt bài viết này là đầu tháng 1/2015, ngay sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1).

Thuận lợi, chúng tôi đã và đang là chuyên gia thực hành trong lãnh vực pháp luật và kinh tế, nên lấy kiến thức từ thực tiễn để áp dụng vào việc “phân định” đúng (sai) cho vụ án, góp phần cùng dư luận xã hội, chung tay cứu giúp những người bị phạt tù oan sai.

Tính khách quan của báo cáo: chúng tôi không có mối quan hệ, và cũng chưa từng giao dịch với các bị cáo, ngân hàng ACB, Vietinbank hay các cơ quan tố tụng hình sự – Chúng tôi viết loạt báo cáo này, không phải để cung cấp cho họ – Mà, chúng tôi viết loạt báo cáo này, chủ yếu để phục vụ bạn đọc, mọi người đều có thể là bạn đọc, mọi người đều có thể chiến đấu cho công lý.

Các dẫn chứng pháp luật từ các quyết định, thông tư, nghị định, luật và bộ luật được trích dẫn từ các nguồn tin cậy như các trang website chinhphu.vn (của chính phủ VN), cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (của Bộ tư pháp), thư viện pháp luật (của Bộ tư pháp). Bạn đọc chỉ cần copy tiêu đề văn bản, gõ vào tìm kiếm google là kiểm chứng được ngay.

Cảnh báo: Bạn đọc, không nên đọc một lèo cho hết bản báo cáo của chúng tôi, vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.

CÁC CHỦ ĐỀ CỦA BÀI VIẾT CẦN LƯU Ý:

  1. Nhận định quan trọng về vụ án Huyền Như, vụ án Nguyễn Đức Kiên.

– Trích dẫn mở đầu (B.I).

Bài báo của phóng viên Khánh Công, đăng trên vnmedia.vn; và bài báo của phóng viên Việt Dũng, đăng trên vnexpress.net; được chúng tôi chọn làm trích dẫn mở đầu (khái quát sơ lược một vài vấn đề liên quan), bạn đọc có thể lướt qua phần này – hoặc dùng khi tra cứu nguồn gốc vụ việc.

– Địa vị pháp lý của Phòng giao dịch, vai trò của Huyền Như, và việc áp dụng các điều khoản của Bộ luật hình sự 1999 (B.II).

Nội dung này cho các bạn biết, địa vị pháp lý của Phòng giao dịch thuộc chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần, và vai trò của Huyền Như.

Nội dung này cũng cho các bạn biết, các hành vi có dấu hiệu sai phạm nào của Huyền Như thì bị xử lý theo điều 139, hay theo nhóm điều khoản về ‘tội phạm chức vụ’ của Bộ luật hình sự 1999.

– Mô phỏng hành vi của Huyền Như và các dấu hiệu vi phạm pháp luật (B.III).

Nội dung này cho các bạn biết, Huyền Như có dấu hiệu chiếm đoạt các sổ tiết kiệm – và Huyền Như cầm cố các sổ tiết kiệm do chiếm đoạt mà có, để lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank. Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) có dấu hiệu bị Huyền Như và Vietinbank dẫn dắt đi chơi – nên họ chưa phân định được chính xác các hành vi của Huyền Như. Hậu quả này dẫn đến việc họ qui kết sai lệch từ việc Huyền Như lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank biến tướng thành Huyền Như lừa đảo lấy tiền của các nhân viên ACB. …

– Dấu hiệu: Vietinbank chiếm đoạt tiền có nguồn gốc từ các tài khoản tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB (trước đó đã bị Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm), là có dấu hiệu vi phạm pháp luật (B.IV).

Nội dung này cho các bạn biết, những người của Vietinbank trong các phi vụ tất toán tài khoản tiết kiệm trái pháp luật – Họ có dấu hiệu, vi phạm Bộ luật dân sự 2005, vi phạm Luật kế toán 2003, vi phạm Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là Luật các tổ chức tín dụng 2010) – Do đó, họ có dấu hiệu phạm tội theo “Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. …

– Dấu hiệu của 3 “kịch bản” liên quan trong vụ án Huyền Như, vụ án Nguyễn Đức Kiên (B.V).

Nội dung này, đặt ra các giả định (dựa theo thực tế diễn biến quá trình tố tụng hình sự), để lý giải những vấn đề “khuất tất” và“mờ ám” trong quá trình tố tụng hình sự. …

  1. Dẫn chứng, phân tích, bình luận, chứng minh mở rộng:

– Phương hướng chủ đạo trong tố tụng hình sự, và phân định trách nhiệm của các cựu lãnh đạo ACB trong vụ ủy thác tiền gửi, và trách nhiệm của vietinbank trong vụ huyền như (C.I).

Nội dung này cho các bạn biết, tính đặc thù của điều 165 Bộ luật hình sự 1999 là cặp phạm trù (nhân – quả) phải luôn luôn gắn liền nhau, song hành cùng nhau trong việc phân định tội phạm. Do đó, quy trình tố tụng hình sự không được phép tách án. Việc tách án là sai.

– Ngân hàng ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào ngân hàng Vietinbank thì hoàn toàn hợp pháp và hợp lệ, theo các Bộ luật hiện hành – tại thời điểm của vụ việc (C.II).

– Việc Huyền Như tham gia huy động vốn cho Vietinbank, là hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường (C.III).

– Làm rõ hơn trách nhiệm của Vietinbank trong vụ án Huyền Như (C.IV).

Trong nội dung này, còn liên hệ đến kết quả xét xử một vụ án khác, xảy ra ở một ngân hàng khác (tương tự vụ Huyền Như). …

– Một mình Huyền Như không thể chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng nhiều lần được (C.V).

Nội dung này cho các bạn biết, một mình Huyền Như không thể chiếm đoại tiền gửi của khách hàng nhiều lần được. Có 4 Câu hỏi và trả lời (kèm theo), để giúp làm rõ chủ đề này:

Câu hỏi 1 (và trả lời): Huyền Như cùng với những người nào tham gia chiếm đoạt tiền gửi, làm rõ các hoạt động này phải căn cứ vào cơ sở pháp luật nào?

Câu hỏi 2 (và trả lời): nếu Huyền Như dùng quyền lực của mình ra lệnh cho nhân viên ngân hàng làm theo ý đồ của mình thì sao?

Câu hỏi 3 (và trả lời): Việc làm giả con dấu, và giả chữ ký của Huyền Như có phải là yếu tố trọng yếu của vụ án hay không?

Câu hỏi 4 (và trả lời): Phương hướng giải quyết tiền và tài sản thu hồi của vụ án để sung công quỹ Nhà nước có đúng không?

– Nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán, và những cơ sở đương nhiên của pháp luật (C.VI).

Nội dung C.VI này, chủ yếu để bạn đọc tham khảo và tra cứu khái quát về kiến thức và pháp luật (nếu bạn nào đã nắm vững rồi thì không cần xem nội dung này). Chúng tôi viết nội dung này, vì quan sát thấy các cơ quan tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm bị Huyền Như, Vietinbank và đại diên Ngân hàng Nhà nước dẫn dắt đi chơi quá nhiều. Nguyên nhân, có thể do những người“cầm cân nẩy mực” thiếu kiến thức chuyên môn về các lĩnh vực dân sự, kế toán, tín dụng – Đặc biệt, Luật kế toán 2003 đóng vai trò chủ đạo (trọng yếu) trong việc phân định đúng (sai) cho vụ án, thì chưa được vận dụng.

Tuy nhiên, nội dung này cũng hé lộ nhiều tình tiết pháp lý quan trọng như:

– Theo Luật kế toán 2003 và dưới luật là Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính: “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán” – Thì, lãnh đạo ngân hàng nói chung (quyền trưởng PGD Huyền Như nói riêng) không có thẩm quyền cấp mã số tài khoản tiền gửi cho khách hàng, không được tự ý ngồi vào bàn làm việc của kế toán. Phần mềm kế toán tin học, được lập trình sao cho lãnh đạo ngân hàng nói chung (quyền trưởng PGD Huyền Như nói riêng) chỉ xem – chứ không làm được công việc kế toán (ngoại trừ công đoạn duyệt chứng từ kế toán, duyệt báo cáo kế toán).

– Kế toán viên và lãnh đạo ngân hàng ở bất cứ địa bàn nào, họ đều có trách nhiệm pháp lý phải bảo vệ và quản lý các tài khoản tiền gửi của khách hàng khi họ thực hành thẩm quyền truy cập vào, lập và duyệt giao dịch, hoàn chỉnh nghiệp vụ cho tài khoản đó. Đây là cơ sở pháp lý để phân định có hành vi tham ô hay không, của người có chức trách và thẩm quyền đối với tài khoản tiền gửi ngân hàng.

– Các ngân hàng thường gắn mác cho nhân viên kế toán là nhân viên giao dịch, nhân viên dịch vụ khách hàng, … Các cách thức này đề cao vai trò đa dạng hóa công việc (dịch vụ) đối với nhân viên kế toán, hạ thấp vai trò của kế toán viên (kế toán viên, kế toán viên kiểm soát, phụ trách kế toán) – Dẫn đến, vô tình làm giảm bớt tính pháp lý của Luật kế toán 2003 trong nhận thức của mọi người, làm cho các cơ quan tố tụng hình sự, luật sư, phóng viên, bạn đọc quên mất vai trò và địa vị pháp lý của Luật kế toán 2003 trong vụ án Huyền Như. … Đặc điểm nhận dạng này, được chúng tôi khái quát lại, đưa vào trình bày trong câu hỏi 2 của mục C.V.

  1. Ước lượng cần đọc:

Để ước tính dung lượng đọc bài trên web, bạn đọc có thể so sánh dữ liệu tương đương trên file word: Nội dung Bản báo cáo kỳ 1này gần 73 trang – Trong đó, nội dung chính từ trang 5 đến trang 60 (gần 55 trang). Nội dung Nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán, và những cơ sở đương nhiên của pháp luật từ trang 60 đến trang 73 (gần 13 trang) – font chữ times new roman, cỡ chữ 12, khổ giấy A4, định dạng lề 0,5’’. So sánh với hồ sơ đồ sộ của các cơ quan tố tụng hình sự, thì dung lượng chúng tôi viết ở đây là rất khái quát, cô đọng – Nhưng vì, chúng tôi phải bổ sung phần trình bày kiến thức trong từng nội dung cụ thể, để bạn đọc nào cũng có thể hiểu đúng và nắm bắt được vấn đề.

Soạn giả: Lý Hồng Mạnh, Hà Nội tháng 05 năm 2015. Trong khuôn khổ hoạt động tình nguyện, không lợi nhuận, không được trả tiền, vì mục đích hỗ trợ dân oan Việt Nam.

(Bạn đọc, nên quan tâm đến chất lượng của nội dung bài viết hơn là quan tâm đến chúng tôi – xin cảm ơn trước).

  1. NHẬN ĐỊNH QUAN TRỌNG VỀ VỤ ÁN HUYỀN NHƯ, VỤ ÁN NGUYỄN ĐỨC KIÊN.

B.I. TRÍCH DẪN MỞ ĐẦU.

  1. Bài báo của vnmedia.vn:

“(VnMedia) – Chiều ngày 20/5, phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tức “bầu” Kiên) và các đồng phạm tiếp tục diễn ra. Đại diện Viện kiểm sát đã công bố cáo trạng dài 36 trang.

… Theo đại diện Viện kiểm sát, trên cơ sở điều tra, đã xác định, khoảng tháng 7 – 8/2012, cơ quan Cảnh sát điều tra (Bộ Công an) nhận được nhiều đơn tố cáo của một số cá nhân do các lãnh đạo Đảng, Nhà nước chuyển đến. Nội dung đơn thư tố cáo Nguyễn Đức Kiên có hành vi kinh doanh trái phép, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, thao túng ngân hàng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước.

Cơ quan điều tra cũng nhận được kết luận thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh TP. Hà Nội xác định Ngân hàng Thương mại CP Á Châu (chi nhánh Thăng Long và Hà Nội) có một số sai phạm trong quản trị và hoạt động kinh doanh ngân hàng. Xét thấy có đủ căn cứ, cơ quan CSĐT (BCA) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức Kiên và các đồng phạm về các hành vi phạm tội.

… Cũng theo bản cáo trạng của Viện KSND Tối cao đưa ra truy tố Nguyễn Đức Kiên cùng đồng phạm về hành vi phạm tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng” được thể hiện với nội dung: Thực hiện chủ trương ngày 22/3/2010 của Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB (gồm Trần Xuân Giá, Lê Vũ Kỳ, Phạm Trung Cang, Trịnh Kim Quang, Lý Xuân Hải) và Nguyễn Đức Kiên ủy thác cho các ngân hàng gửi tiền VNĐ và USD tại các tổ chức tín dụng, từ ngày 27/6 đến ngày 5/9/2011, Ngân hàng ACB ủy thác cho 19 nhân viên ACB gửi 718,908 tỉ đồng vào VietinBank chi nhánh Nhà Bè và chi nhánh TP.HCM với lãi suất trong hợp đồng là 14%/năm và lãi suất chênh lệch ngoài hợp đồng là 3,7-13%/năm. Số tiền này đã bị Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ VietinBank chi nhánh TP.HCM) lừa đảo chiếm đoạt”.

(Nguồn trích dẫn: “Viện kiểm sát công bố cáo trạng xử “bầu” Kiên và đồng phạm”, Bài báo của phóng viên Khánh Công, Cập nhật lúc 16h08″ , ngày 20/05/2014 đăng trên vnmedia.vn).

  1. Trích dẫn phán quyết có dấu hiệu sai trái điển hình của cơ quan tố tụng hình sự:

“Chiều nay, sau hơn 2 tiếng đọc bản án, HĐXX TAND Tối cao tuyên giữ nguyên hình phạt với bị cáo Nguyễn Đức Kiên và 4 cựu lãnh đạo Ngân hàng ACB. Duy nhất, cựu phó chủ tịch HĐQT Lê Vũ Kỳ được giảm một năm tù. …

15h50

Về hành vi Cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế của bị cáo Kiên, Lý Xuân Hải, Trịnh Kim Quang, Lê Vũ Kỳ, Phạm Trung Cang, Huỳnh Quang Tuấn, HĐXX phúc thẩm xác định Nghị quyết thường trực HĐQT ACB ngày 22/3/2010 uỷ quyền cho các nhân viên gửi tiền các tổ chức tín dụng khác và đã gây thiệt hại cho ACB gần 719 tỷ đồng.

Tòa nhận định, theo luật, ngân hàng thương mại không gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác. Vì thế, ACB dù trực tiếp hay qua trung gian gửi tiền đều bị coi là vi phạm pháp luật. Mọi giao dịch phát sinh từ nghị quyết 22/3/2010 là vi phạm”.

(Nguồn trích dẫn: “Nguyễn Đức Kiên bị y án 30 năm tù, nộp phạt hơn 75 tỷ đồng”, bài báo của phóng viên Việt Dũng, cập nhật hôm thứ hai, 15/12/2014 | 14:10 GMT+7; đăng trên vnexpress.net).

Nội dung phán quyết có dấu hiệu sai trái này của HĐXX TAND Tối cao, sẽ được chúng tôi dẫn chứng, phân tích, chứng minh đầy đủ trong toàn bộ Bản báo cáo kỳ 1 này, mời bạn đọc chú ý theo dõi.

B.II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA PHÒNG GIAO DỊCH, VAI TRÒ CỦA HUYỀN NHƯ, VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ (1999).

  1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝCỦA PHÒNG GIAO DỊCH (thuộc chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần), và vai trò của Huyền Như.

Theo Bộ luật dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật các tổ chức tín dụng 1997 thì “ngân hàng” là: một pháp nhân – doanh nghiệp – tổ chức tín dụng. Theo đó, pháp nhân – doanh nghiệp – tổ chức tín dụng, thì có chi nhánh và văn phòng đại diện, … Đặc thù ngành ngân hàng, thì có thêm sở giao dịch.

Trong các Luật nêu trên, thì khoản 3, 4 của điều 92 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 2 của điều 37 Luật doanh nghiệp 2005 qui định chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân – doanh nghiệp; đồng thời, chi nhánh không phải là pháp nhân. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân (doanh nghiệp), kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền. Tất cả các luật nói trên, đều không đưa ra qui định về “phòng giao dịch”.

Như vậy, địa vị pháp lý của “phòng giao dịch”, là do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định theo quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008 như sau:

“[Quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước): …

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: …

  1. Phòng giao dịchlà bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách hàng.

Phòng giao dịch không được thực hiện các hoạt động sau:

  1. a) Cấp tín dụng cho một khách hàng vượt quá hai tỷ Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ quy đổi tương đương, trừ trường hợp khoản cấp tín dụng được bảo đảm toàn bộ bằng: tiền, vàng, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc Nhà nước;
  2. b) Các dịch vụ thanh toán quốc tế, trừ dịch vụ đại lý chi trả kiều hối.]”

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã áp dụng phương pháp khai triển tương đương theo các bộ luật do Quốc hội ban hành để tạo hành lang pháp lý, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh về kinh tế và quản lý kinh tế – đến đây, địa vị pháp lý của“phòng giao dịch” đã rõ – nó có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của chi nhánh, kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền. Những chức năng mà “phòng giao dịch” được giao, thì nó có thể có thẩm quyền như chi nhánh và pháp nhân – và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trao nhiệm vụ cùng với phương tiện: “hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách hàng” để cho “phòng giao dịch” thực hiện được thẩm quyền này.

Điểm nhấn:

Từ dẫn chứng, phân tích địa vị pháp lý của “Phòng giao dịch” thuộc chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần nêu trên, chúng ta nhận thấy: các phòng giao dịch của Vietinbank nói chung, hay Phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc chi nhánh Vietinbank TP.HCM nói riêng – đối với chức năng và nhiệm vụ được giao, chúng có thể có thẩm quyền như Vietinbank và chi nhánh Vietinbank của chúng.

Đồng thời, đối với các Trưởng phòng giao dịch của Vietinbank nói chung, hay quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc chi nhánh Vietinbank TP.HCM nói riêng (cụ thể là Huyền Như), thì đối với chức năng và nhiệm vụ được giao (phạm vi của họ), họ cũng có thể có thầm quyền như đối với Tổng giám đốc Vietinbank, Giám đốc chi nhánh của Vietinbank trong vai trò là người “đại diện theo ủy quyền”.

Vậy thì, khi khách hàng và các đối tác đến giao dịch tại các phòng giao dịch của Vietinbank, họ cũng có niềm tin vào “phòng giao dịch” đó như tin vào Vietinbank và chi nhánh Vietinbank, có niềm tin vào Trưởng phòng giao dịch đó như tin vào Tổng giám đốc Vietinbank và Giám đốc chi nhánh của Vietinbank. Vì vậy, tại các Phòng giao dịch của Vietinbank, khách hàng tuân theo sự hướng dẫn thực hiện quy trình nghiệp vụ (kể cả các hình thức của quy trình nghiệp vụ) của các cán bộ tín dụng, của các kế toán viên giao dịch, của trưởng phòng giao dịch – vì đó là họ tin vào những người có trách nhiệm và có thẩm quyền của Vietinbank.

Bộ luật dân sự 2005, Luật kế toán 2003, Luật doanh nghiệp 2005, Luật các tổ chức tín dụng 1997 và 2010 trao chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cho ngân hàng – đó là cơ sở pháp lý (bắt buộc) để ngân hàng tạo được đức tin đối với khách hàng.

Vấn đề còn lại, là trách nhiệm đề bạt, quản lý, đôn đốc, kiểm tra của người Đại diện theo pháp luật của Vietinbank, Giám đốc chi nhánh của Vietinbank, hệ thống quản trị của Vietinbank như thế nào mà thôi? Cho nên, Bộ luật dân sự 2005 dành hẳn chương VII để nói về “đại diện” và hậu quả do người đại diện xác lập.

  1. Việc áp dụng các điều khoản của Bộ luật hình sự 1999.

Huyền Như là quyền Trưởng phòng Giao dịch Điện Biên Phủ (đại diện theo ủy quyền), thì đương nhiên Huyền Như là lãnh đạo của Phòng giao dịch này. Vai trò của Huyền Như là một lãnh đạo đơn vị cơ sở của ngân hàng Vietinbank. Do đó, các sai phạm của Huyền Như phải được xem xét gắn với vai trò của người lãnh đạo (người đứng đầu) mà không thể tách rời. Vì nếu tách rời, hoặc phủ nhận vai trò người lãnh đạo của Huyền Như sẽ dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ án, cũng như sẽ dẫn đến áp dụng sai các điều khoản của Bộ luật hình sự 1999.

Nếu, các cơ quan tố tụng hình sự thổi vụ án lên đến mức làm cho dư luận xã hội phong cho Huyền Như là một “siêu lừa đảo”, điều đó sẽ dẫn đến xem thường vai trò và trách nhiệm người lãnh đạo của Huyền Như và công tác tổ chức cán bộ của ngân hàng Vietinbank.

Các dấu hiệu vi phạm của Huyền Như có thể bị xử lý theo “Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cũng có thể xử lý theo nhóm các điều khoản về “tội phạm chức vụ”, hoặc “Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” của Bộ luật hình sự 1999. Nhưng theo qui định, thì mỗi hành vi không bị xử lý hai lần – Do đó, vận dụng điều khoản nào để xử lý Huyền Như nhằm làm rõ bối cảnh, nguyên nhân, động cơ sai phạm, để có tác dụng khắc phục hậu quả, chấn chỉnh chung cho tổ chức và cá nhân, phòng ngừa sai phạm về sau mới là quan trọng hơn.

Có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Huyền Như theo điều 139 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 ngày 21/12/1999 của Quốc Hội Việt Nam, vì Huyền Như có dấu hiệu dùng quyền hành để gây án. Nhưng nếu chỉ áp dụng điều luật này, thì nó chỉ phản ánh tình trạng gộp chung (đôi khi còn tạo ra sự mơ hồ trong vụ án Huyền Như), nên dễ dẫn đến bỏ sót việc truy cứu các hành vi phạm tội. Đồng thời, không chỉ rõ được bối cảnh, động cơ, tính chất, hành vi có dấu hiệu phạm tội (nếu so với áp dụng nhóm điều khoản về ‘tội phạm chức vụ’).

Vậy, khi nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự của Huyền Như theo điều 139, và khi nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự của Huyền Như theo nhóm điều khoản về ‘tội phạm chức vụ’, chúng ta hãy lần lượt xem xét theo các trình tự sau đây:

2.1. Dấu hiệu vi phạm của Huyền Như có thể bị xử lý theo điều 139.

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

‘1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác …’

Đối chiếu với từ điển tiếng Việt (từ điển Lacviet) để kiểm chứng:

Thủ đoạn gian dối:

Thủ đoạn (danh từ) = hành động xảo trá, tính toán khôn khéo nhằm đoạt lợi ích cho mình.

Gian dối (tính từ) = không thật thà, có ý lừa lọc.

Lừa dối (động từ) = nói dối để che dấu sự thật

Lừa đảo, chiếm đoạt:

Lừa đảo (động từ) = dùng thủ đoạn để chiếm tài sản, của cải.

Chiếm (động từ) = lấy làm của mình bằng sức mạnh hay quyền thế

Chiếm đoạt (động từ) = lấy bằng vũ lực hay quyền hành

Từ điển Viet – Anh (từ điển Lacviet):

Thủ đoạn dối trá = dishonest means

Dishonest (tính từ) = không lương thiện, bất lương; không thành thật, không trung thực

Means (danh từ) = phương tiện, biện pháp, cách thức

PHÂN TÍCH ĐIỀU 139:

Điều 139 phản ánh nhược điểm của Bộ luật hình sự 1999 nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung, đó là về mặt ngữ pháp trong cấu trúc câu. Nếu dùng cụm từ “lừa đảo” để diễn đạt hành vi, thì có thể người có hành vi “lừa đảo” đã đạt được kết quả ngay rồi mà không cần dùng vũ lực hay quyền hành. Vì vậy, tội danh theo điều 139 có thể điều chỉnh cấu trúc câu là: “lừa đảo lấy tài sản”là đủ. Cho nên, những người soạn thảo và thông qua Bộ luật hình sự ghép thêm cụm từ “chiếm đoạt” vào sau cụm từ “lừa đảo” là chỉ nhằm nói cho “đã” miệng.

Hành vi lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng từ Vietinbank của Huyền Như có thể bị truy cứu trách nhiệm theo điều 139 của Bộ luật hình sự 1999. Vì, chỉ một số người cá biệt vừa lừa đảo vừa có quyền hành và chức vụ như Huyền Như mới hội đủ cho cụm từ “lừa đảo chiếm đoạt” của điều 139. Cao thủ hơn, Huyền Như còn có dấu hiệu điều khiển được quyền hành và chức vụ của cấp trên để phục vụ cho việc lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank.

Nhưng, nếu áp dụng đại trà điều 139 cho các thành phần thường dân khác thì lại thừa – vì những người không có quyền hành và chức vụ, nếu lấy tài sản bằng vũ lực thì đã được xem xét ở tội danh tại điều 135 của Bộ luật hình sự 1999 rồi – còn nếu lừa đảo, thì họ không cần dùng vũ lực cũng đã đạt được kết quả (như đã phân tích ở trên):

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản -> 1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, … -> 2. … -> 5. …”.

Đồng thời, nếu áp dụng điều 139 của Bộ luật hình sự 1999 để buộc tội Nguyễn Đức Kiên, thì các cơ quan tố tụng hình sự đã không chứng minh được việc Nguyễn Đức Kiên lấy tài sản bằng vũ lực và quyền hành (chiếm đoạt), vì hệ thống của Tập đoàn Hòa Phát thì to lớn, mạnh mẽ và quyền uy hơn Nguyễn Đức Kiên rất nhiều.

2.2. Các dấu hiệu vi phạm của Huyền Như có thể bị xử lý theo nhóm điều khoản “tội phạm chức vụ”.

Dấu hiệu về hành vi Huyền Như chiếm đoạt sổ tiết kiệm, chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo nhóm các dấu hiệu về “tội phạm chức vụ” của Bộ luật hình sự 1999, thì nó diễn tả rõ chân tướng, bối cảnh, động cơ, hành vi của sự việc hơn (so với điều 139) – do Huyền Như có thể dùng quyền hành và ảnh hưởng để tác động từ nhân viên cho đến các đồng nghiệp ngang cấp (ở phòng giao dịch hoặc chi nhánh) – cũng vì, các sổ tiết kiệm, tài khoản của các sổ tiết kiệm này, tài khoản tiền gửi của khách hàng có thể thuộc thẩm quyền quản lý của Huyền Như.

“Điều 277. Khái niệm tội phạm về chức vụ 

Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ.

Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Điều 278. Tội tham ô tài sản 

  1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý …”

Điều 280. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 

  1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác …”

“Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ  

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, …”

Điều 284. Tội giả mạo trong công tác  

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm: -> a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; -> b) Làm, cấp giấy tờ giả; -> c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn. -> 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: -> a) Có tổ chức; -> b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu; -> c) Phạm tội nhiều lần; -> d) Gây hậu quả nghiêm trọng. -> 3. … 4. … 5. …”

Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 

  1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. -> 2. … 3. …”

Như vậy, với vai trò của Huyền Như thì cô ta có thể bị xử lý theo nhóm các dấu hiệu về “tội phạm chức vụ” của Bộ luật hình sự 1999 – cụ thể là điều 278, 280, 281, 284, 285.

“Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 

  1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, … -> 2. … -> 4. …”

Qua phân tích và trích dẫn các điều luật nêu trên, chúng ta nhận thấy quá trình tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1), các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã có dấu hiệu truy cứu không đầy đủ các hành vi có dấu hiệu phạm tội của Huyền Như. Họ, cũng áp dụng điều luật không chuẩn xác, dẫn đến hiệu quả tố tụng hình sự rất yếu kém gây bức xúc trong dư luận, là điều mà ai cũng dễ dàng nhìn thấy.

B.III. MÔ PHỎNG HÀNH VI CỦA HUYỀN NHƯ VÀ CÁC DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

  1. HUYỀN NHƯ CÓ DẤU HIỆU CHIẾM ĐOẠT SỔ TIẾT KIỆM CỦA CÁC NHÂN VIÊN ACB.

1.1. Chốt chặn của bộ phận kế toán Vietinbank, đã để cho Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm.

GIẢ ĐỊNH B.III.1.1:

Các nhân viên ACB ký hợp đồng tiền gửi tại Vietinbank chi nhánh TP HCM, theo đó tài khoản không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (kèm theo sổ tiết kiệm) của họ có thể được mở tại Vietinbank chi nhánh TP HCM, hoặc mở tại Phòng giao dịch Điện Biên Phủ (trực thuộc Vietinbank chi nhánh TP HCM) – Chúng ta vẫn sử dụng hai giả định về địa điểm mở sổ tiết kiệm này (Để trừ hao những “thiếu sót” có thể có giữa tường thuật của phóng viên với kết quả điều tra, cáo trạng, bản án) – Mặc dù, theo trích dẫn sau đây, thì các sổ tiết kiệm được mở tại Vietinbank chi nhánh TP HCM:

“[Theo bản án cấp sơ thẩm: Từ ngày 13/5/2011 đến tháng 10/2011, khi được Huỳnh Thị Huyền Như đặt vấn đề giải quyết cho khách hàng của Như vay tiền tại đây, thế chấp bằng thẻ tiết kiệm gửi tiền tại Vietinbank chi nhánh TPHCM, nhưng khách hàng không có mặt do bận; đề nghị cho vay trước rồi bổ sung thủ tục hồ sơ sau; Đoàn Lê Du đã chỉ đạo nhân viên Phòng giao dịch lập 51 hồ sơ tín dụng cho vay đứng tên 16 cá nhân vay tổng cộng 239,94 tỷ đồng; thế chấp bằng 37 thẻ tiết kiệm trị giá 246,85 tỷ đồng mang tên 12 cá nhân là nhân viên Ngân hàng ACB; Nam Việt có tiền gửi tại Vietinbank chi nhánh TPHCM; trong đó chỉ có 6 cá nhân được Như nhờ đứng tên vay trên 13 khoản vay 70,44 tỷ đồng là có mặt tại Phòng giao dịch để ký trong hồ sơ tín dụng;còn lại đều không có mặt người vay, người có tài sản bảo lãnh để ký vào hồ sơ khi vay; sau khi giải ngân xong mới chuyển lại hồ sơ cho Như để bổ sung chữ ký.

(Nguồn trích dẫn: Các bị cáo “tố” Huyền Như, đồng loạt xin được giảm án; bài báo của Nhóm Phóng viên/VOV.VN; cập nhật Thứ 6, 14:02, 19/12/2014; đăng trên vov.vn).

Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng để gửi các chứng từ “ủy nhiệm chi chuyển tiền” cho nhân viên ACB ký (có một số ủy nhiệm chi có chữ ký thật của khách hàng, có một số ủy nhiệm chi là do Huyền Như giả mạo chữ ký của khách hàng). Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng để bộ phận kế toán Vietinbank mở tài khoản tiết kiệm đồng thời với việc lập sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB. Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng lên bộ phận kế toán để gom các sổ tiết kiệm giao cho khách hàng (là các nhân viên ACB). Huyền Như không giao sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB mà chiếm đoạt luôn các sổ tiết kiệm này – mô phỏng dấu hiệu về hành vi này của Huyền Như có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng xử lý như sau:

– Nếu tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (kèm sổ tiết kiệm) được mở tại Vietinbank chi nhánh TP HCM, thì các tài sản này không thuộc trách nhiệm quản lý của Huyền Như, nên Huyền Như có thể bị xử lý theo: “Điều 280Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. 1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác …”

– Nếu tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (kèm sổ tiết kiệm) được mở tại Phòng giao dịch Điện Biên Phủ trực thuộc Vietinbank chi nhánh TP HCM, thì các tài sản này thuộc trách nhiệm quản lý của Huyền Như, nên Huyền Như có thể bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản. 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý …”

Điểm nhấnRõ ràng, chúng ta thấy rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm (vòng 1) chưa làm rõ dấu hiệu tội phạm trong hành vi chiếm đoạt sổ tiết kiệm của Huyền Như.

Trách nhiệm và sai sót của bộ phận kế toán.

Trong kinh doanh hiện đại, nhất là ứng dụng marketing trong nền kinh tế thị trường – thì mô phỏng hành vi của Huyền Như theogiả định B.III.1.1 nêu trên, đều có ý nghĩa tích cực trong hoạt động kinh doanh, tạo ra dịch vụ cho khách hàng đến tận nhà.

Điểm nhấn:

Khi khai triển một nghiệp vụ kinh doanh, thì phải gắn liền với nghiệp vụ kế toán tương thích với nó một cách kịp thời – đó là nhiệm vụ của người quản trị và bộ máy kế toán. Ví dụ như dịch vụ tài khoản internet bank, chính là dịch vụ ngân hàng đến tận nhà cho khách hàng mà nghiệp vụ kế toán tin học đã đáp ứng được để khai triển nghiệp vụ kinh doanh.

Nếu, căn cứ theo nghiệp vụ kinh doanh tạo ra dịch vụ đến tận nhà cho khách hàng (quan điểm kinh doanh hiện đại), thì việc Huyền Như chuyển các phiếu lệnh chi tiền (ủy nhiệm chi) cho các nhân viên ACB ký, sau đó các nhân viên ACB chuyển các lệnh chi tiền đã ký lại cho Huyền Như, để Huyền Như chuyển chứng từ cho bộ phận kế toán thực hiện việc lập sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB – thì hành vi này của các nhân viên ACB không phải là hành vi ký khống chứng từ. Vì Huyền Như là một người có trách nhiệm và có thẩm quyền của Vietinbank đứng ra làm dịch vụ đến tận nhà cho khách hàng, thì khách hàng không tin Huyền Như thì tin ai? Theo phân tích về địa vị pháp lý của “Phòng giao dịch” nêu ở mục “B.II.1” nêu trên, thì với chức năng và nhiệm vụ được giao (phạm vi quyền Trưởng Phòng giao dịch của Huyền Như), Huyền Như có thể có thẩm quyền như Tổng giám đốc Vietinbank và Giám đốc chi nhánh Vietinbank TP.HCM (địa vị của người “đại diện theo ủy quyền”).

Điểm nhấn:

So sánh tương đối về nguyên lý chung, chúng ta thấy khách hàng cũng giống như người tham gia giao thông phải tuân theo Luật giao thông. Nhưng Luật giao thông lại qui định, khi tham gia giao thông mà gặp người hướng dẫn và điều khiển giao thông – thì người tham gia giao thông phải ưu tiên chấp hành theo sự hướng dẫn của những người này. Thì đối với Luật kế toán và Luật các tổ chức tín dụng cũng vậy – khách hàng cũng phải ưu tiên chấp hành sự hướng dẫn của người có trách nhiệm và có thẩm quyền của ngân hàng (cụ thể là Huyền Như), trên cả kiến thức hiểu biết sơ lược của họ.

Dù rằng, việc chuyển tiền từ tài khoản không kỳ hạn vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của các nhân viên ACB không làm thay đổi quyền sở hữu tài sản của họ – Nhưng bộ phận kế toán tại chi nhánh Vietinbank TP HCM hoặc phòng giao dịch Điện Biên Phủ (trực thuộc Chi nhánh Vietinbank TP HCM) lại có sai sót trọng yếu về mặt nghiệp vụ, nên không kiểm soát được hành vi của Huyền Như. Tức là nghiệp vụ kế toán và tổ chức bộ máy kế toán của Vietinbank chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh – Các Kế toán viên làm việc với Huyền Như chủ yếu bằng “cảm tính”, chứ không bằng tác phong hành nghề độc lập và chuyên nghiệp (theo Luật kế toán 2003 đã qui định), bởi các nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất là, bộ phận kế toán không làm thủ tục nhập xuất nội bộ giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm), không quyết toán việc ủy thác cấp phát giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm), không kiểm tra việc ủy thác cấp phát giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm) thông qua cuộc nói chuyện bằng điện thoại với khách hàng (không cẩn trọng).

Nếu bộ phận kế toán thực hiện qui trình luân chuyển sổ sách và chứng từ nội bộ chặt chẽ để quản lý tài sản, thì kể cả hành vi Huyền Như giả mạo chữ ký khách hàng trên các chứng từ “ủy nhiệm chi” cũng không giúp cho Huyền Như chiếm đoạt được các sổ tiết kiệm.

Thứ hai là, nghiệp vụ nhập xuất nội bộ: giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm), quyết toán việc ủy thác cấp phát giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm) – nghiệp vụ này, đã có từ thời kinh tế tập trung quan liêu bao cấp – và hiện nay, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vẫn đang áp dụng nghiệp vụ nhập xuất nội bộ, để quản lý tài sản luân chuyển nội bộ và ủy thác gắn với quy trình cung ứng tài sản và dịch vụ ra bên ngoài.

Nhưng thực tế là, đa số các ngân hàng khi trực tiếp giao sổ tiết kiệm cho khách hàng tại quầy giao dịch, để đơn giản thủ tục họ đều không yêu cầu khách hàng ký nhận giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm). Có những giai đoạn, một số ngân hàng cho khách hàng gửi tiền vào tài khoản tiền gửi có kỳ hạn và chỉ giao cho khách hàng phiếu thu tiền mà không cần lập sổ tiết kiệm (trừ trường hợp gửi tiền tiết kiệm online thì không làm phát sinh giấy tờ có giá).

Từ thực tế giao dịch trực tiếp với khách hàng tại quầy giao dịch theo kiểu rút gọn và đơn giản thủ tục như vậy, khiến cho các ngân hàng từ từ quên đi nghiệp vụ nhập xuất giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm) khi phát sinh trong nội bộ (kể cả biểu mẫu giấy tờ có giá do ngân hàng in ấn), quên đi nghiệp vụ quyết toán việc ủy thác cấp phát giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm) cho khách hàng, cũng như chủ quan không kiểm tra việc ủy thác cấp phát giấy tờ có giá (sổ tiết kiệm) thông qua cuộc nói chuyện bằng điện thoại với khách hàng.

Đây là lỗi trọng yếu trong qui trình nghiệp vụ kế toán của Vietinbank, cũng là thiếu tính cẩn trọng trong dịch vụ chăm sóc khách hàng của nghiệp vụ kế toán và nghiệp vụ marketing. Có thể khẳng định rằng, đây là nguyên nhân chính yếu giúp cho Huyền Như chiếm đoạt được các sổ tiết kiệm, và Huyền Như đã dùng các sổ tiết kiệm chiếm đoạt này để tiếp tục lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank.

GIẢ ĐỊNH B.III.1.2:

Nếu giả định rằng, một mình Huyền Như tự mở tài khoản tiết kiệm cho nhân viên ACB được, thì chứng tỏ hệ thống tin học kế toán của Vietinbank đã bị Huyền Như đột nhập. Nếu xảy ra trường hợp này, thì Huyền Như có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về dấu hiệu “tin tặc” nữa. Còn nếu như lỗi do phần mềm hệ thống tin học kế toán không được thiết kế để ngăn chặn hành vi lạm dụng của những người như Huyền Như mà Luật kế toán đã quy định, thì cần phải truy cứu trách nhiệm từ Bản hợp đồng của Vietinbank với đơn vị lập trình phần mềm kế toán tin học.

  1. HUYỀN NHƯ CÓ DẤU HIỆU LỪA ĐẢO LẤY TIỀN VỐN TÍN DỤNG CỦA VIETINBANK.

2.1. Trích dẫn:

“[Theo bản án cấp sơ thẩm: Từ ngày 13/5/2011 đến tháng 10/2011, khi được Huỳnh Thị Huyền Như đặt vấn đề giải quyết cho khách hàng của Như vay tiền tại đây, thế chấp bằng thẻ tiết kiệm gửi tiền tại Vietinbank chi nhánh TPHCM, nhưng khách hàng không có mặt do bận; đề nghị cho vay trước rồi bổ sung thủ tục hồ sơ sau; Đoàn Lê Du đã chỉ đạo nhân viên Phòng giao dịch lập 51 hồ sơ tín dụng cho vay đứng tên 16 cá nhân vay tổng cộng 239,94 tỷ đồng; thế chấp bằng 37 thẻ tiết kiệm trị giá 246,85 tỷ đồng mang tên 12 cá nhân là nhân viên Ngân hàng ACB; Nam Việt có tiền gửi tại Vietinbank chi nhánh TPHCM; trong đó chỉ có 6 cá nhân được Như nhờ đứng tên vay trên 13 khoản vay 70,44 tỷ đồng là có mặt tại Phòng giao dịch để ký trong hồ sơ tín dụng; còn lại đều không có mặt người vay, người có tài sản bảo lãnh để ký vào hồ sơ khi vay; sau khi giải ngân xong mới chuyển lại hồ sơ cho Như để bổ sung chữ ký.

Tài liệu điều tra xác định 37 thẻ tiết kiệm mang tên 12 cá nhân là ký hợp đồng tiền gửi tại Vietinbank chi nhánh TP HCM nhưng không nhận các thẻ tiết kiệm; mục đích dùng thế chấp vay tiền tại Phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng. 10 cá nhân đứng tên vay tiền và 12 người đứng tên tài sản bảo lãnh đều không làm thủ tục vay tiền và bảo lãnh việc vay tiền nêu trên tại Phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng; chữ ký của những người này trên các Hợp đồng 62 tín dụng là do Như tự ký giả (Kết luận giám định số 3101/C54-P5 ngày 26/12/2011).

Hành vi của Đoàn Lê Du chỉ đạo việc cho vay không có mặt khách hàng vay; người có tài sản bảo lãnh đã vi phạm quy định tại Hướng dẫn cho vay tiêu dùng có bảo đảm bằng số dư tiền gửi, sổ/thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá; được ban hành theo Quyết định số 069/QĐ-NHCT19 ngày 25/1/2010 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam; dẫn đến việc Như thực hiện trót lọt việc lừa đảo bằng thủ đoạn dùng thẻ tiết kiệm mang tên 12 nhân viên Ngân hàng ACB, Nam Việt để dùng thế chấp vay tiền tại Phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng, ký giả chữ ký của người vay và người có tài sản bảo lãnh, chiếm đoạt được 239,94 tỷ đồng]”.  

(Nguồn trích dẫn: Các bị cáo “tố” Huyền Như, đồng loạt xin được giảm án; bài báo của Nhóm Phóng viên/VOV.VN; cập nhật Thứ 6, 14:02, 19/12/2014; đăng trên vov.vn).

2.2. Chốt chặn của bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán Vietinbank trong việc lập hồ sơ tín dụng và giải ngân vốn vay cho Huyền Như tại phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng (trực thuộc Chi nhánh Vietinbank TP.HCM).

Trong hành vi có dấu hiệu lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng từ Vietinbank của Huyền Như, thì cô ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo dấu hiệu tội phạm tại “Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản’. Nội dung này hiểu cho đúng là: “lừa đảo lấy tài sản” là đủ – Tức là, Huyền Như lừa đảo để lấy tài sản luôn chứ không cần phải chiếm đoạt nữa. Hành vi mà Huyền Như “lừa đảo lấy tài sản”của Vietinbank không thể bị truy cứu theo dấu hiệu của tội tham ô được, vì Huyền Như không có nhiệm vụ quản lý số tài sản này (vì vốn tín dụng này do phòng giao dịch khác quản lý).

GIẢ ĐỊNH B.III.2.2.1:

Cán bộ quản lý có thẩm quyền duyệt hồ sơ trước, chỉ đạo giải ngân trước bằng mệnh lệnh (có thể có thêm lệnh miệng, trước quy trình nghiệp vụ của cán bộ tín dụng và của cán bộ kế toán), hoàn chỉnh hồ sơ sau.

  1. Giai đoạn lập hồ sơ tín dụng và giải ngân.

Giả định này được xác lập cho những hồ sơ, mà những người được Huyền Như nhờ đứng tên vay tiền, nhưng không đến ngân hàng ký xác lập giao dịch – căn cứ theo dẫn chứng B.III.2.1 nêu trên: “trong đó chỉ có 6 cá nhân được Như nhờ đứng tên vay trên 13 khoản vay 70,44 tỷ đồng là có mặt tại Phòng giao dịch để ký trong hồ sơ tín dụng; còn lại đều không có mặt người vay, người có tài sản bảo lãnh để ký vào hồ sơ khi vay; sau khi giải ngân xong mới chuyển lại hồ sơ cho Như để bổ sung chữ ký”.

Như vậy, có 6 người đứng tên vay cho Huyền Như có mặt tại phòng giao dịch để ký hồ sơ vay 70,44 tỷ đồng. Vậy còn lại 169,5 tỷ đồng được phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng ( thuộc Chi nhánh Vietinbank TP.HCM): “sau khi giải ngân xong mới chuyển lại hồ sơ cho Huyền Như để bổ sung chữ ký”.

Huyền Như dùng các sổ tiết kiệm đã chiếm đoạt để cùng Vietinbank lập hồ sơ bên vay và bên cho vay vốn tín dụng (giả mạo người bảo lãnh bằng hình thức cầm cố sổ tiết kiệm – mạo danh, giả mạo chữ ký người bảo lãnh trên hồ sơ tín dụng). Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng (kể cả tác động từ cấp trên) để các cán bộ quản lý duyệt hồ sơ trước, chỉ đạo thực hiện giải ngân trước, khách hàng ký bổ sung sau (Huyền Như dùng cách làm này, để cho chắc ăn không bị hớ).

Vì vay số tiền lớn, Huyền Như và Vietinbank chọn phương thức giải ngân bằng hình thức chuyển khoản. Khi hồ sơ tín dụng được duyệt và được giải ngân trước (chuyển tiền vào các tài khoản do Huyền Như chỉ định, hoặc tài khoản đứng tên người vay), phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng (Vietinbank TP.HCM) mới giao hồ sơ lại cho Huyền Như hoàn chỉnh. Thấy cá đã cắn câu, Huyền Như thực hiện giả mạo chữ ký của người đứng tên vay (kể cả việc giả mạo chữ ký trên phụ lục giải ngân).

Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm là việc ký nhận nợ trên phụ lục giải ngân của hợp đồng tín dụng diễn ra trước hay là sau thời điểm giải ngân (cấp vốn bằng chuyển khoản), và chữ ký đó là thật hay là giả mạo – nó thuộc về trách nhiệm của cán bộ tín dụng. Việc khách hàng ký nhận nợ trên phụ lục giải ngân của hợp đồng tín dụng không nhất thiết phải diễn ra ở trụ sở ngân hàng. Hợp đồng tín dụng kiêm phụ lục giải ngân được cán bộ tín dụng chuyển qua bộ phận kế toán để thi hành. Tuy nhiên, khi cấp vốn bằng hình thức chuyển khoản để giải ngân – bộ phận kế toán có quyền thẩm định lại hồ sơ giải ngân. Nhưng nếu thấy có nghi vấn, hoặc thấy chưa rõ ràng, thì bằng phương pháp nghiệp vụ, kế toán viên có quyền kiểm tra tính xác thực của đối tượng.

Như vậy, với phương thức cấp vốn tín dụng bằng hình thức chuyển khoản – thì khách hàng có mặt tại trụ sở ngân hàng để xác lập giao dịch vay vốn tín dụng sẽ có tác dụng giúp cho bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán cùng có điều kiện để kiểm chứng tính xác thực của đối tượng vay vốn một cách thuận lợi và minh bạch hơn. Tuy nhiên, trong kinh doanh hiện đại, tùy theo đối tượng khách hàng mà ngân hàng có thể linh hoạt chứ không bắt buộc.

Ở giả định B.III.2.2.1 này, lãnh đạo Phòng giao dịch đã tước mất (làm suy yếu) tính tự chủ trong công việc, tính độc lập trong chuyên môn của cán bộ tín dụng và cán bộ kế toán. Do đó, chốt chặn của bộ phận tín dụng trong việc thẩm định hồ sơ vay vốn, và chốt chặn của bộ phận kế toán trong việc thẩm định hồ sơ giải ngân đã bị người lãnh đạo của họ giáng cho một đòn phủ đầu – Khiến cho tính tuân theo pháp luật của nhân viên và các bộ phận chuyên môn không còn đủ mạnh và tỉnh táo để thực thi nhiệm vụ và chống lại sai trái của lãnh đạo.

Ở tình tiết này, có thể tăng nặng hình phạt đối với Đoàn Lê Du (cựu lãnh đạo phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng, trực thuộc chi nhánh Vietinbank TP HCM), đồng thời giảm nhẹ hình phạt cho các nhân viên của họ.

Tuy nhiên, cán bộ tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm chính trong việc để cho Huyền Như ký giả mạo chữ ký của người bảo lãnh, giả mạo chữ ký của người đứng tên vay vốn. Sau nữa, thì bộ phận kế toán cũng chịu trách nhiệm liên đới trong việc thẩm định hồ sơ giải ngân (nhưng nhẹ hơn cán bộ tín dụng).

Điểm nhấn:

Trong chốt chặn của bộ phận kế toán – cần làm rõ là, mặc dù Huyền Như ký giả chữ ký của những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như – Nhưng, Huyền Như có mạo danh những người đứng tên vay tiền không? Đến đây chúng ta cần phân biệt bốn tình huống có thể xảy ra mà các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) chưa làm rõ là:

Giải ngân tẩu tán tài sản trực tiếp:

– Nếu việc giải ngân không chuyển tiền vào đúng tài khoản của người đứng tên vay – mà lại chuyển tiền giải ngân vào tài khoản của người khác (không phải của người đứng tên vay) theo chỉ định của Huyền Như – thì bộ phận kế toán của phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng (Vietinbank TP HCM) phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự và dân sự.

– Nếu những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như là mạo danh (không có thực), nên khi giải ngân buộc phải chuyển tiền vào vào tài khoản của người khác (không phải của người đứng tên vay mạo danh) theo chỉ định của Huyền Như – thì bộ phận kế toán của phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng (Vietinbank TP.HCM) phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự và dân sự.

Giải ngân tẩu tán tài sản qua tài khoản trung gian:

– Nếu những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như là có thật, và được Vietinbank chuyển tiền giải ngân vào tài khoản của họ, và họ tham gia tẩu tán tài sản cho Huyền Như, thì những người này phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự (họ cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu biết trước Huyền Như có ý đồ lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng).

– Ngược lại, nếu những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như là có thật, và tài khoản của họ được Vietinbank chuyển tiền giải ngân vào và bị Huyền Như lợi dụng để tẩu tán tàn sản, mà họ không biết – thì bộ phận kế toán của ngân hàng nơi có các tài khoản này phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự và dân sự.

  1. Giai đoạn trung gian tẩu tán tài sản.

Như điểm nhấn vừa nêu trên, chúng ta cần làm rõ hơn chốt chặn của bộ phận kế toán tại ngân hàng, nơi có tài khoản nhận tiền giải ngân cho Huyền Như:

Cần làm rõ xem, các tài khoản của những người được Huyền Như nhờ đứng tên vay vốn này mở tại ngân hàng nào – những tài khoản này chỉ là các tài khoản trung gian để Huyền Như trả nợ và tẩu tán tài sản thôi. Vì Huyền Như đã giả mạo chữ ký của họ, thì Huyền Như cũng có thể tiếp tục giả mạo chữ ký của họ trên các ủy nhiệm chi để tẩu tán tài sản. Nếu, những tài khoản trung gian cho Huyền Như này được thực hiện đúng thủ tục, thì chủ nhân các tài khoản này phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự về số vốn tín dụng của Vietinbank.

Nếu, Bộ phận kế toán ngân hàng nơi các tài khoản này mở, không thực hiện đúng quy trình, tiếp tục để Huyền Như giả mạo chữ ký trên ủy nhiệm chi để tẩu tán tài sản, thì bộ phận kế toán ngân hàng này cũng phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự.

Chúng ta thấy là, Hồ sơ tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm (vòng 1) của vụ án Huyền Như chưa truy đến giai đoạn này trong quá trình tẩu tán tài sản của Huyền Như – nên không xác định chính xác để thu hồi tiền về được, vì vậy hiệu suất thu hồi tiền sai phạm còn quá ít.

GIẢ ĐỊNH III.2.2.2:

Cán bộ quản lý có thẩm quyền duyệt hồ sơ trước, nhưng không chỉ đạo giải ngân bằng mệnh lệnh trước (trước quy trình nghiệp vụ của cán bộ tín dụng và của cán bộ kế toán).

  1. Giai đoạn lập hồ sơ tín dụng và giải ngân.

Giả định này được xác lập cho những hồ sơ, mà những người được Huyền Như nhờ đứng tên vay tiền có đến ngân hàng ký xác lập giao dịch – căn cứ theo dẫn chứng B.III.2.1 nêu trên: “trong đó chỉ có 6 cá nhân được Như nhờ đứng tên vay trên 13 khoản vay 70,44 tỷ đồng là có mặt tại Phòng giao dịch để ký trong hồ sơ tín dụng”.

Chốt chặn của bộ phận tín dụng trong việc thẩm định và duyệt hồ sơ vay.

Huyền Như dùng các sổ tiết kiệm đã chiếm đoạt để lập hồ sơ vay vốn (giả mạo người bảo lãnh bằng hình thức cầm cố sổ tiết kiệm – mạo danh, giả mạo chữ ký người bảo lãnh trên hồ sơ tín dụng). Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng (kể cả tác động từ cấp trên) để các cán bộ quản lý duyệt hồ sơ trước, nhưng không chỉ đạo giải ngân bằng mệnh lệnh trước (trước quy trình nghiệp vụ của cán bộ tín dụng, và của cán bộ kế toán). Vì vay số tiền lớn, Huyền Như và Vietinbank chọn phương thức giải ngân bằng hình thức chuyển khoản.

Ở giả định B.III.2.2.2 này, lãnh đạo Phòng giao dịch đã tước mất (làm suy yếu) tính tự chủ trong công việc, tính độc lập trong chuyên môn của cán bộ tín dụng. Tuy nhiên, cán bộ tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm chính trong việc để cho Huyền Như ký giả mạo chữ ký của người bảo lãnh. Mặc dù vậy, các hồ sơ này có khá hơn khi có 6 cá nhân đứng tên vay vốn cho Huyền Như có mặt tại Phòng giao dịch để ký hồ sơ tín dụng.

Việc khách hàng ký nhận nợ trên phụ lục giải ngân của hợp đồng tín dụng không nhất thiết phải diễn ra ở trụ sở ngân hàng (xem thêm ở giả định B.III.2.2.1 nêu trên).

Chốt chặn của bộ phận kế toán: Căn cứ hợp đồng tín dụng kiêm phụ lục giải ngân do bộ phận tín dụng chuyển qua, bộ phận kế toán sẽ giải ngân vốn vay bằng hình thức chuyển khoản cho khách hàng – mà không cần phải có mặt khách hàng. Tuy nhiên, khi cấp vốn bằng hình thức chuyển khoản để giải ngân – bộ phận kế toán có quyền thẩm định lại hồ sơ giải ngân. Nhưng nếu thấy có nghi vấn, hoặc thấy chưa rõ ràng, thì bằng phương pháp nghiệp vụ, kế toán viên có quyền kiểm tra tính xác thực của đối tượng.

Đến đây chúng ta cần phân biệt ba tình huống có thể xảy ra mà các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) chưa làm rõ là:

Giải ngân tẩu tán tài sản trực tiếp:

– Nếu việc giải ngân không chuyển tiền vào đúng tài khoản của người đứng tên vay – mà lại chuyển tiền giải ngân vào tài khoản của người khác (không phải của người đứng tên vay) theo chỉ định của Huyền Như – thì bộ phận kế toán của phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng (Vietinbank TP.HCM) phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự và hình sự.

Giải ngân tẩu tán tài sản qua tài khoản trung gian:

– Nếu những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như là có thật, và được Vietinbank chuyển tiền giải ngân vào tài khoản của họ, và họ tham gia tẩu tán tài sản cho Huyền Như, thì những người này phải liên đới chịu trách nhiệm.

– Ngược lại, nếu những người đứng tên vay tiền cho Huyền Như là có thật, và tài khoản của họ được Vietinbank chuyển tiền giải ngân vào và bị Huyền Như lợi dụng để tẩu tán tàn sản, mà họ không biết – thì bộ phận kế toán của ngân hàng nơi có các tài khoản này phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự và hình sự.

  1. Giai đoạn trung gian tẩu tán tài sản.

Chốt chặn của bộ phận kế toán tại ngân hàng, nơi có tài khoản nhận tiền giải ngân cho Huyền Như:

Cần làm rõ xem, các tài khoản của những người được Huyền Như nhờ đứng tên vay vốn này mở tại ngân hàng nào. Vì những tài khoản này chỉ là các tài khoản trung gian để Huyền Như trả nợ và tẩu tán tài sản thôi. Vì Huyền Như cũng có thể tiếp tục giả mạo chữ ký của họ trên các ủy nhiệm chi để phân tán tài sản.

Nếu, những tài khoản trung gian cho Huyền Như này được thực hiện đúng thủ tục, thì chủ nhân các tài khoản này phải chịu trách nhiệm về số vốn tín dụng vay từ Vietinbank. Nếu, bộ phận kế toán ngân hàng nơi các tài khoản này mở, không thực hiện đúng quy trình, tiếp tục để Huyền Như giả mạo chữ ký trên ủy nhiệm chi để tẩu tán tài sản, thì bộ phận kế toán ngân hàng này cũng phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự – Vì quá trình rút tiền, bao giờ cũng chịu sự kiểm soát đặc biệt về qui trình nghiệp vụ hơn so với quá trình huy động vốn.

Nhiệm vụ của quá trình điều tra, truy tố, xét xử là phải làm rõ quá trình của vụ việc rơi vào tình huống nào, theo các giả định nêu trên gắn với việc truy cứu trách nhiệm của người quản lý có thẩm quyền, của bộ phận nghiệp vụ (Bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán) để phân xử tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ.

Điểm nhấn chung trong mô phỏng hành vi của Huyền Như:

Chúng ta thấy là, quá trình tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1), các cơ quan chức năng chưa làm rõ chốt chặn của bộ phận kế toán – Có thể, do họ thiếu kiến thức về Luật kế toán.

  1. VẬN DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ ỨNG PHÓ VỚI CÁC HÀNH VI CỦA HUYỀN NHƯ.

3.1. XỬ LÝ HÀNH VI CÓ DẤU HIỆU CHIẾM ĐOẠT CÁC SỔ TIẾT KIỆM.

3.1.1. Xử lý hình sự.

– Nếu tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (kèm sổ tiết kiệm) được mở tại Phòng giao dịch Điện Biên Phủ trực thuộc Vietinbank chi nhánh TP HCM, thì các tài sản này thuộc trách nhiệm quản lý của Huyền Như, nên Huyền Như có thể bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản”.

Chú ý: Nếu các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (TK thanh toán) của khách hàng (mở tại bất cứ đơn vị nào của Vietinbank) cũng bị Huyền Như chiếm đoạt, thì hành vi này cũng bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản”.

– Nếu tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (kèm sổ tiết kiệm) được mở tại Vietinbank chi nhánh TP HCM, thì các tài sản này không thuộc trách nhiệm quản lý của Huyền Như, nên Huyền Như có thể bị xử lý theo “Điều 280Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Cũng vì trong trường hợp này, Huyền Như không có thẩm quyền duyệt các lệnh giao dịch đối với việc mở các tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn này. Trong quá trình sau đó, Huyền Như cũng không truy cập để lập và duyệt các lệnh giao dịch đối với các tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn này (tức là chưa vi phạm trách nhiệm pháp lý đối với các tài khoản tiền gửi tiết kiệm này). Bạn đọc cần xem thêm nội dung trình bày ở mục C.VI để hiểu rõ hơn.

Vì hành vi Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm là đơn phương, nên chỉ xử lý bằng biện pháp chế tài hình sự (mà không xử lý dân sự) là tịch thu sổ tiết kiệm (hoặc giá trị bằng tiền tương ứng) do Vietinbank đang nắm giữ để trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp. Biện pháp chế tài hình sự này, nhằm đảm bảo thực thi pháp luật theo qui định tại khoản 2 điều 17 Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là khoản 2 điều 10 Luật các tổ chức tín dụng 2010), trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền (khách hàng).

Nếu Vietinbank không tự nguyện hoàn trả lại các sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định thu hồi các sổ tiết kiệm (hoặc bằng tiền) để trả lại cho các khổ chủ (kể cả lãi tiền gửi tiết kiệm).

Luật các tổ chức tín dụng 1997:

“Điều 17. Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền

Tổ chức tín dụng có trách nhiệm: 1. …; -> 2. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; bảo đảm trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi của mọi khoản tiền gửi; -> 3. …”.

Luật các tổ chức tín dụng 2010:

“Điều 10. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây: 1. …; -> 2. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền, bảo đảm thanh toán đủ, đúng hạn gốc và lãi của các khoản tiền gửi; -> 3. …”

Chú ý: Nếu có trường hợp, Huyền Như đã tất toán sổ tiết kiệm (tài khoản tiết kiệm) của khách hàng, thì hành vi này sẽ bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản”.

3.2. XỬ LÝ HÀNH VI CÓ DẤU HIỆU LỪA ĐẢO LẤY VỐN TÍN DỤNG.

3.2.1. Xử lý hình sự.

Trong việc lừa đảo lấy tiền của Vietinbank – hành vi này của Huyền Như có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về dấu hiệu phạm tội tại “Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản’ của Bộ luật hình sự 1999 – vì tài sản là vốn tín dụng này, không thuộc trách nhiệm quản lý của Huyền Như.

3.2.2. Xử lý dân sự.

Tòa hình sự sẽ thụ lý giải quyết nội dung dân sự trong vụ án hình sự luôn – vì đã phát hiện dấu hiệu tội phạm hình sự: chiếm đoạt sổ tiết kiệm, lừa đảo lấy vốn tín dụng của Huyền Như.

Tòa hình sự sẽ căn cứ theo bộ luật dân sự 2005 để vận dụng cơ sở pháp lý vào việc giải quyết nội dung dân sự trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt vốn tín dụng của Huyền Như – Tức là Tòa hình sự xử lý án hình sự, nhưng cũng kiêm nhiệm luôn vai trò của Tòa dân sự để giải quyết hệ quả dân sự phát sinh trong vụ án hình sự – Điều đó, không có nghĩa là Tòa hình sự dùng biện pháp hình sự để giải quyết nội dung dân sự, mà cơ bản là Tòa án phải bố trí những người trong HĐXX có hiểu biết chuyên sâu và đồng thời cả về pháp luật hình sự cũng như pháp luật dân sự – Các biện pháp chế tài hình sự, và các biện pháp chế tài dân sự có thể được áp dụng đan xen nhau, bổ sung cho nhau nhưng vẫn thể hiện sự rõ ràng và tách bạch để không bị rơi vào tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự.

Trình tự áp dụng theo qui định tại điều 136, điều 137 của Bộ luật dân sự 2005 như sau:

“Điều 136. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. -> Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.-> 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.

Như vậy, theo khoản 1 của điều 137 Bộ luật dân sự 2005 (khi tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo điều 136), thì Huyền Như và Vietinbank vẫn giữ nguyên quyền và nghĩa vụ dân sự do chính họ xác lập.

Ở đây, Tòa hình sự sẽ làm công việc của Tòa dân sự luôn mà không cần thiết phải mở một phiên tòa dân sự riêng – Lý do là, hành vi hình sự phát sinh trước (nguyên nhân chính) làm phát sinh hành vi dân sự (hệ quả).

Đồng thời, theo khoản 2 của điều 137 Bộ luật dân sự 2005, Vietinbank phải hoàn trả lại sổ tiết kiệm để Huyền Như trả lại sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB. Ở chiều ngược lại, thì Huyền Như phải hoàn trả lại tiền vốn tín dụng cho Vietinbank. Nhưng HĐXX sẽ áp dụng biện pháp chế tài dân sự luôn.

Biện pháp chế tài hình sự để bổ sung cho biện pháp chế tài dân sự về vốn tín dụng, là tịch thu tiền thu lợi bất chính của các đối tượng cho vay nặng lãi, và của bất cứ đối tượng nào khác thụ hưởng từ việc Huyền Như trả nợ, trả lãi từ nguồn lừa đảo lấy vốn tín dụng của Vietinbank (kể cả nguồn từ việc Huyền Như chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng – để khắc phục hậu quả theo từng vụ việc).

Việc xử lý dân sự về vốn tín dụng này – cũng đan xen chế tài hình sự trong vụ Huyền Như chiếm đoạt sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB – thì cơ quan chức năng sẽ thu hồi các sổ tiết kiệm này để trả lại cho các nhân viên ACB. Nếu Vietinbank đã tất toán các sổ tiết kiệm này (chiếm đoạt) trái pháp luật, thì cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ thu hồi lại bằng tiền để trả lại cho các nhân viên ACB (xem thêm tại mục B.3.1.1 vừa nêu ở liền kề bên trên).

Tóm lại, chúng ta đã xác định được trách nhiệm hình sự là Huyền Như dùng quyền hành và ảnh hưởng để lừa đảo Vietinbank, lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank thông qua các hợp đồng tín dụng mạo danh người bão lãnh, mạo danh hoặc nhờ người đứng tên vay – Chứ Huyền Như không lừa đảo các nhân viên ACB, vì nếu lừa đảo được các nhân viên ACB thì Huyền Như lấy tiền của họ luôn chứ không cần phải xác lập các hợp đồng tín dụng mạo danh người bảo lãnh để vay vốn Vietinbank nữa. Điều quan trọng là Huyền Như tìm ra chỗ yếu trong các mắt xích của hệ thống Vietinbank để chiếm đoạt sổ tiết kiệm của khách hàng, lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank một cách rất ngoạn mục.

Như vậy, Vietinbank có dấu hiệu vi phạm pháp luật về dân sự và hình sự là: tự ý thanh lý các hợp đồng tín dụng có dấu hiệu vi phạm pháp luật dân sự và pháp luật hình sự (do Huyền Như mạo danh, giả mạo chữ ký, giả mạo hồ sơ, dùng các sổ tiết kiệm do chiếm đoạt mà có để cầm cố vay vốn tín dụng) – được xác lập bởi Huyền Như và những người có trách nhiệm của Vietinbank. Đồng thời với việc Vietinbank tự ý tất toán các tài khoản tiết kiệm (các sổ tiết kiệm) của các nhân viên ACB, khi các sổ tiết kiệm này đã bị Huyền Như chiếm đoạt trái pháp luật để cầm cố vay vốn tín dụng của Vietinbank (Vietinbank nhận cầm cố để cho Huyền Như vay tiền) – Khi chưa có phán quyết của tòa án tuyên bố về hợp đồng dân sự vô hiệu, và chưa có quyết định xử lý về tài sản chiếm đoạt (các sổ tiết kiệm) của “cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” (xem thêm nhận định về các dấu hiệu này tại mục B.IV dưới đây).

B.IV. DẤU HIỆU: VIETINBANK CHIẾM ĐOẠT TIỀN CÓ NGUỒN GỐC TỪ CÁC TÀI KHOẢN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA CÁC NHÂN VIÊN ACB (TRƯỚC ĐÓ ĐÃ BỊ HUYỀN NHƯ CHIẾM ĐOẠT CÁC SỔ TIẾT KIỆM), LÀ CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

  1. ĐÃ PHÁT HIỆN RA HÀNH VI TẤT TOÁN TÀI KHOẢN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TRÁI PHÉP CỦA VIETINBANK, NHƯNG HĐXX PHÚC THẨM VỤ ÁN HUYỀN NHƯ (VÒNG 1) LẠI KHÔNG PHÁN QUYẾT.

“[Liên quan đến việc giả chữ ký chủ thẻ cầm cố thẻ tiết kiệm vay tiền, vấn đề được nhiều người tiến hành tố tụng tập trung thẩm vấn là việc khi phát hiện sai phạm trong cho vay, đã có chỉ đạo từ lãnh đạo VietinBank qua điện thoại ngay lập tức tất toán thu hồi tiền không cần hỏi ý kiến chủ thẻ tiết kiệm.

Thẩm phán Mai Thị Tú Oanh hỏi bị cáo Đoàn Lê Du (nguyên Trưởng PGD Đinh Tiên Hoàng): “Trong một bản cung, bị cáo có khai Như gọi điện thoại nói “Cưng cho tất toán ngay đi, sẽ bị phong tỏa đấy!”. Bị cáo biết đó là khoản nào cần phải tất toán không?” Du ấp úng: “Việc tất toán các khoản vay trước hạn đều có ý kiến của ban giám đốc. Bị cáo không tự ý làm mà các lãnh đạo chi nhánh đều biết rõ những khoản vay bất hợp pháp từ điểm giao dịch của Như chuyển sang”. Vị thẩm phán hỏi tiếp: “Tất toán không cần hỏi ý kiến chủ thẻ tiết kiệm?” Du đáp: “Dạ, theo quy định khi phát hiện có sai phạm, không hợp pháp nên tất toán”. Vị thẩm phán đặt vấn đề: “Sai phạm ở đây là ai sai phạm? Chủ thẻ tiết kiệm có biết thẻ tiết kiệm của mình bị người khác sử dụng đi vay bất hợp pháp đâu? Thông qua việc tất toán đã biến hành vi chiếm đoạt tiền của VietinBank thành chiếm đoạt của ACB và Navibank?” Trước các câu hỏi này, bị cáo Du im lặng.

Tương tự, đại diện Viện KSND tối cao hỏi bị cáo Trần Thanh Thanh (nguyên Trưởng PGD Điện Biên Phủ): “Hợp đồng cho vay 25 tỉ đồng bị cáo đã tất toán, trích tiền từ thẻ tiết kiệm thu hồi vốn”. Thanh thưa: “Dạ”. Vị công tố truy: “Chủ thẻ tiết kiệm người ta có vay đâu mà bị cáo tự ý tất toán? Ai chỉ đạo bị cáo tất toán?” Thanh đáp: “Ban giám đốc”. Vị công tố hỏi: “Cụ thể là ai?” Thanh ấp úng: “Bị cáo không nhớ”. Vị công tố vặn: “Vậy lời khai này là bịa à?” Vị công tố nói tiếp: “Các bị cáo nói hợp đồng có dấu hiệu vi phạm nên tất toán. Ai là người vi phạm? Chủ thẻ tiết kiệm hay các bị cáo vi phạm?”

Đại diện Viện KSND nói thêm: “Không chỉ có 51 hợp đồng cho vay sai bị truy tố trong vụ án này mà các bị cáo còn làm rất nhiều vụ khác nhưng đã tất toán xong nên không bị truy tố. Các bị cáo đã làm việc đó rất nhiều lần và nếu làm rõ là có dấu hiệu sử dụng trái phép tài sản nữa”]”.

 (Nguồn trích dẫn: “Xét xử phúc thẩm đại án Huỳnh Thị Huyền Như: Phát hiện sai phạm trong việc tất toán vội vàng”, bài của phóng viên Lê Nga đăng trên thanhnien.com.vn 20/12/2014 04:28).

  1. CƠ SỞ ĐỂ KHẲNG ĐỊNH VIETINBANK TẤT TOÁN TÀI KHOẢN TIẾT KIỆM TRÁI PHÁP LUẬT.

Luật các tổ chức tín dụng 1997:

“Điều 17. Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền

Tổ chức tín dụng có trách nhiệm:

  1. Tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi; mức bảo toàn hoặc bảo hiểm do Chính phủ quy định; ->2. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; bảo đảm trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi của mọi khoản tiền gửi; -> 3. Bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng; từ chối việc điều tra, phong toả, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; -> 4. Thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi”.

“Điều 15. Quyền tự chủ kinh doanh

Các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, góp vốn, cung ứng các dịch vụ ngân hàng, nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với pháp luật”.

“Điều 20. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: -> 1. …; … -> 9. Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền. -> 10. …”

“Điều 101. Thông tin cho chủ tài khoản

Tổ chức tín dụng phải thông tin định kỳ cho chủ tài khoản về những giao dịch và số dư trên tài khoản của họ tại tổ chức tín dụng”.

Các điều khoản vừa nêu của Luật các tổ chức tín dụng 1997, cũng được kế thừa tương tự trong Luật các tổ chức tín dụng 2010 là:Điều 7. Quyền tự chủ hoạt động; Điều 10. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng; Điều 13. Cung cấp thông tin; Điều 4. Giải thích từ ngữ (khoản 13). Cho nên chúng ta có thể tự tin áp dụng mà không phải băn khoăn về sự thay đổi của pháp luật đối với các nội dung này.

Huyền Như cùng Vietinbank lập giao dịch dân sự. Khi chưa xác định được hành vi hình sự, thì Vietinbank đã đơn phương thanh lý hợp đồng tín dụng do Huyền Như và những người có trách nhiệm của Vietinbank lập trái pháp luật. Vietinbank tự ý tất toán tài khoản tiết kiệm (kèm sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB đã bị Huyền Như chiếm đoạt) là có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Điểm nhấn:

Nếu Vietinbank đã phát hiện ra hành vi hình sự của Huyền Như rồi, mà Vietinbank lại tự ý tất toán tài khoản tiết kiệm (sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB đã bị Huyền Như chiếm đoạt) – thì sai phạm pháp luật của Vietinbank lại càng lớn hơn.

Hợp đồng tín dụng do Vietinbank lập cùng với Huyền Như bị vô hiệu theo qui định tại các điều khoản của Bộ luật dân sự 2005 như sau:

“Điều 410. Hợp đồng dân sự vô hiệu

  1. Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Phân tích:

Huyền Như mạo danh người bảo lãnh để cùng với Vietinbank lập các hợp đồng tín dụng. Do đó, xác định rằng người tham gia giao dịch dân sự (thực tế) là Huyền Như chứ không phải là các nhân viên ACB. Cũng khẳng định rằng, không có chứng cứ nào chứng minh rằng các nhân viên ACB đã tham gia giao dịch bảo lãnh vay vốn tín dụng của Vietinbank.

Giao dịch dân sự giữa Vietinbank và Huyền Như thỏa mãn điểm a, khoản 1 “Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự”là: “1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”;

Về thực tế, Huyền Như và những người của Vietinbank cùng tham gia giao dịch dân sự, và họ đều có năng lực hành vi dân sự.

Nhưng Giao dịch dân sự giữa Vietinbank và Huyền Như lại không thỏa mãn điểm b và điểm c, khoản 1 của điều 122 Bộ luật dân sự 2005 là:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) … -> b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; -> c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.

Một là, về thực tế: Huyền Như và Vietinbank đã xác lập giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Đó là dùng tài sản do Huyền Như chiếm đoạt (là các sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB), để cầm cố và nhận cầm cố các sổ tiết kiệm này làm tài sản bảo đảm để vay vốn (đối với Huyền Như) và cho vay vốn (đối với Vietinbank). Trong việc này, Huyền Như cũng không lừa dối Vietinbank, mà Huyền Như làm thật, dùng uy tín và ảnh hưởng để lừa đảo thật. Và bộ máy thối nát của Vietinbank (nơi Huyền Như thực hiện việc lừa đảo) đã chấp nhận việc lừa đảo của Huyền Như một cách vô điều kiện.

Vì bộ máy của Vietinbank được tạo ra có đủ chức năng, phương tiện, lực lượng và năng lực để nhận biết được hành vi chiếm đoạt sổ tiết kiệm của Huyền Như và hoàn toàn có thể ngăn chặn được hành vi chiếm đoạt vốn tín dụng của ngân hàng – nhưng bộ máy thối nát của Vietinbank (nơi Huyền Như thực hiện việc lừa đảo) đã không thực hiện chức trách, nhiệm vụ theo thẩm quyền được giao phó.

Hai là, về danh nghĩa mạo danh: các nhân viên ACB không tham gia giao dịch, nên họ không hoàn toàn tự nguyện.

Vậy giao dịch dân sự (hợp đồng tín dụng) được xác lập bởi Huyền Như và Vietinbank, sẽ bị vô hiệu theo qui định tại điều 127 của Bộ luật dân sự 2005:

“Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.

Rõ ràng là, hợp đồng tín dụng được lập bởi Huyền Như và Vietinbank không có tới 2 điều kiện qui định tại khoản 1 của điều 122 Bộ luật dân sự, nên nó sẽ bị vô hiệu bằng phán quyết của tòa án.

Đồng thời, hợp đồng tín dụng được lập bởi Huyền Như và Vietinbank cũng bị vô hiệu theo qui định cụ thể tại điều 128 của Bộ luật dân sự 2005:

“Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.

-> Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. -> Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. -> Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.

Điều 128 là cụ thể hóa điều 122 và điều 127 của Bộ luật dân sự 2005. Do đó, phân tích nội dung của điều 128, cũng tương tự như điều 122 đã được phân tích ở trên (đối với hợp đồng tín dụng được lập bởi Huyền Như và Vietinbank).

Đến đây, chúng ta làm rõ hơn yếu tố “chủ thể”, trong điều 128 của Bộ luật dân sự 2005:

Tra cứu Từ điển tiếng Việt (nguồn từ điển LacViet):

Chủ thể (danh từ) = – Bộ phận chính, giữ vai trò chủ yếu; – Đối tượng gây ra hành động.

Vậy, chúng ta xác định chính xác rằng: Huyền Như và những người của Vietinbank (liên quan đến vụ việc) là các đối tượng gây ra hành động, là bộ phận chính, giữ vai trò chủ yếu trong việc vi phạm điều cấm của pháp luật – Chứ, không phải là các nhân viên ACB (có sổ tiết kiệm tại Vietinbank).

Pháp luật cấm Vietinbank và Huyền Như lập hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản do Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB (tài sản do Huyền Như có dấu hiệu phạm tội mà có).

Luật các tổ chức tín dụng 1997 đã qui định:

Điều 19. Trách nhiệm đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp.

  1. Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp. -> 2. Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Luật các tổ chức tín dụng 2010 qui định:

“Điều 11. Trách nhiệm phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây:

  1. Không được che giấu, thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp; -> 2. …; -> 3. …; -> 4. …”

Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP, ngày 29/12/2006 về “giao dịch bảo đảm”:

‘Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: …

  1. Tài sản được phép giao dịch là tài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm’.

“Điều 19. Quyền của bên nhận cầm cố trong trường hợp nhận cầm cố vận đơn, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá -> 1. … 2. Trong trường hợp nhận cầm cố thẻ tiết kiệm thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong toả tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố. -> 3. …”

Như vậy, các sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB là nguồn tiền hợp pháp. Nhưng khi các sổ tiết kiệm này bị Huyền Như chiếm đoạt, thì các sổ tiết kiệm này trong tay của Huyền Như trở thành nguồn tiền bất hợp pháp. Cùng là một sổ tiết kiệm, nhưng đã dịch chuyển cơ sở pháp lý từ các chủ thể hợp pháp (các nhân viên ACB) sang chủ thể bất hợp pháp (Huyền Như), do hành vi chiếm đoạt của Huyền Như.

Trong quá trình lập các hợp đồng tín dụng, thì các sổ tiết kiệm bị Huyền Như chiếm đoạt “đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp” hay không có – Là, thuộc thẩm quyền trách nhiệm phải tuân thủ theo pháp luật của Vietinbank. Việc thẩm tra xác minh nguồn gốc các sổ tiết kiệm có nguồn gốc bất hợp pháp này rất dễ dàng, nằm trong khả năng và quy trình nghiệp vụ của Vietinbank. Nhưng những người có trách nhiệm của Vietinbank không thực hiện chức trách của mình (không gặp và không giao dịch với người bảo lãnh để nhận dạng và xác lập cơ sở pháp lý đối với các chủ sở hữu đứng tên trên sổ tiết kiệm dùng để cầm cố và nhận cầm cố). Đây là điểm mấu chốt để quy trách nhiệm Vietinbank có dấu hiệu vi phạm điều 19 của Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng 2010). Đồng thời Vietinbank cũng vi phạm Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP, ngày 29/12/2006 về “giao dịch bảo đảm”.

Do không thực hiện đúng chức trách công vụ, những người có trách nhiệm của Vietinbank đã giúp sức tích cực và cùng với Huyền Như “che giấu, thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp”.

Ở vế này, là động cơ thiếu trách nhiệm gây ra hậu quả nghiêm trọng, nên những người có trách nhiệm liên quan của Vietinbank còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 285 của Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên, cùng một hành vi thì không bị xử lý hai lần – nếu các cơ quan tố tụng hình sự đã áp dụng “Điều 179. Tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, thì không áp dụng điều 285 trong công đoạn cho vay này nữa – Ở đây, chủ yếu phục vụ cho việc phân tích, làm rõ nội dung điều 19 của Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng 2010) mà thôi.

Vậy là, khi sự việc đổ bể – Vietinbank phải có trách nhiệm xác minh đến các chủ sở hữu các sổ tiết kiệm – và Vietinbank đã biết các sổ tiết kiệm có nguồn gốc không rõ ràng (có dấu hiệu bất hợp pháp bởi Huyền Như) – Nhưng Vietinbank vẫn có hành vi tự ý tất toán tài khoản tiết kiệm, đã khiến cho Vietinbank tiếp tục vi phạm pháp luật, mà cụ thể là vi phạm điều 19 của Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng 2010), và vi phạm một số điều khoản của Bộ luật dân sự (đã nêu ở trên) – Nhưng lần này, động cơ là vì vụ lợi cho Vietinbank một cách trái pháp luật (làm trái công vụ), nên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 281 của Bộ luật hình sự 1999.

Nếu không xử lý đúng mức đối với Vietinbank, thì những hành vi vi phạm pháp luật này có nguy cơ lan rộng trong toàn ngành ngân hàng Việt Nam.

  1. XỬ LÝ HÌNH SỰ.

Trong vụ tất toán tài khoản tiết kiệm trái pháp luật xảy ra ở Vietinbank này, thì những người của Vietinbank trong vụ này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo nhóm dấu hiệu “tội phạm chức vụ” của Bộ luật hình sự 1999:

“Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ  

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, …”

Đồng thời, cũng chế tài hình sự như đã nêu ở mục B.3.1.1 nêu trên:

Vì hành vi Huyền Như chiếm đoạt các sổ tiết kiệm là đơn phương, nên chỉ xử lý bằng biện pháp chế tài hình sự (mà không xử lý dân sự) là tịch thu sổ tiết kiệm (hoặc giá trị bằng tiền tương ứng) do Vietinbank đang nắm giữ để trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Nếu Vietinbank không tự nguyện hoàn trả lại các sổ tiết kiệm cho các nhân viên ACB, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định thu hồi các sổ tiết kiệm (hoặc bằng tiền) để trả lại cho các khổ chủ.

  1. XỬ LÝ DÂN SỰ:

Nằm trong quy trình xử lý hành vi của Huyền Như có dấu hiệu lừa đảo lấy vốn tín dụng (đan xen với chế tài hình sự) tại mục B.3.2.2 nêu trên.

Nhắc lại điểm nhấn cho nội dung B.IV này:

Vietinbank có dấu hiệu vi phạm pháp luật về kế toán, dân sự và hình sự là: Tự ý thanh lý các hợp đồng tín dụng có dấu hiệu vi phạm pháp luật dân sự và pháp luật hình sự (do Huyền Như mạo danh, giả mạo chữ ký, giả mạo hồ sơ, dùng các sổ tiết kiệm do chiếm đoạt mà có để cầm cố vay vốn tín dụng) – được xác lập bởi Huyền Như và những người có trách nhiệm của Vietinbank. Đồng thời với việc Vietinbank tự ý tất toán các tài khoản tiết kiệm (các sổ tiết kiệm) của các nhân viên ACB, khi các sổ tiết kiệm này đã bị Huyền Như chiếm đoạt trái pháp luật để cầm cố vay vốn tín dụng của Vietinbank (Vietinbank nhận cầm cố để cho Huyền Như vay tiền) – Khi chưa có phán quyết của tòa án tuyên bố về hợp đồng dân sự vô hiệu, và chưa có quyết định xử lý về tài sản chiếm đoạt (các sổ tiết kiệm) của “cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.

Điều đó cho thấy, những người có trách nhiệm của Vietinbank trong các vụ việc này đã đi từ sai phạm này đến sai phạm khác một cách chủ quan và liên tục: từ việc tham gia xác lập hợp đồng tín dụng (do Huyền Như mạo danh, giả mạo chữ ký), nhận cầm cố sổ tiết kiệm có nguồn gốc do Huyền Như chiếm đoạt trái pháp luật, tự ý tất toán sổ tiết kiệm có nguồn gốc do Huyền Như chiếm đoạt để cấn trừ khoản tiền mà Huyền Như lừa đảo lấy tiền của Vietinbank. Cho nên, những người có trách nhiệm của Vietinbank liên quan đến vụ việc này có vai trò giúp sức tích cực cho hoạt động lừa đảo chiếm đoạt của Huyền Như. Vietinbank tự ý tất toán sổ tiết kiệm có nguồn gốc do Huyền Như phạm tội mà có là vi phạm bộ luật dân sự và bộ luật hình sự, Luật kế toán 2003, Luật các tổ chức tín dụng 2007 (nay là Luật các tổ chức tín dụng 2010). Các cơ quan bảo vệ pháp luật cần truy cứu trách nhiệm của những người có thẩm quyền ở Vietinbank trong vụ việc này, thu hồi tiền có nguồn gốc “sổ tiết kiệm” để trả lại cho các chủ sở hữu tài sản này.

B.V. DẤU HIỆU CỦA 3 “KỊCH BẢN” LIÊN QUAN TRONG VỤ ÁN HUYỀN NHƯ, VỤ ÁN NGUYỄN ĐỨC KIÊN?

Trước hết, chúng tôi khẳng định với các bạn rằng: làm “kịch bản” không phải tất cả là xấu, mà đôi khi lại rất cần thiết. Làm “kịch bản” cũng giống như làm “kế hoạch”, nhưng nó cao cấp hơn kế hoạch. Tuy nhiên, khi xem xét “kịch bản”, thì người ta phải xem xét động cơ, hành vi, mục tiêu của những người tham gia làm “kịch bản” là tốt hay là xấu, họ nhắm đến cái gì, để đạt được mục đích gì, “kịch bản” của họ có tuân thủ theo qui định của pháp luật không? Hay là họ dùng phương pháp vi phạm pháp luật, để giải quyết các mâu thuẫn trong các quan hệ dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, xã hội? Có thể nói rằng, kịch bản càng lớn, phạm vi áp dụng kịch bản càng rộng, thì nguy cơ làm sai lệch hồ sơ vụ án càng lớn do giới hạn về năng lực và kiến thức thuộc các chuyên ngành khác nhau.

Những người làm kịch bản cho vụ án Huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên, họ lại không thể tham khảo một vụ án tương tự với vụ án Huyền Như – Đó là vụ án Vũ Thanh Tùng, nguyên phó phòng khách hàng, kiêm trưởng quỹ tiết kiệm Long Biên của một ngân hàng ở Hà Nội, bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội phạt tù trung thân ngày 25/11/2014 (ngay trước khi xét xử phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên và phúc thẩm vụ án Huyền Như). Trong vụ án này, ngân hàng (nơi Vũ Thanh Tùng là cán bộ) đã trả toàn bộ số tiền 24,7 tỷ đồng cho 10 khách hàng bị Tùng chiếm đoạt tiền. Đồng thời, tòa án đã tuyên buộc Vũ Thanh Tùng bồi thường toàn bộ số tiền này cho ngân hàng. Có thể nói, đối với vụ án Vũ Thanh Tùng, thì Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử đúng, do vận dụng đúng Bộ luật hình sự 1999, vận dụng đúng Bộ luật dân sự 2005. Ngân hàng (nơi Vũ Thanh Tùng là cán bộ), cũng là một ngân hàng am hiểu đúng đắn về pháp luật và trách nhiệm của ngân hàng – khác với hành vi của Vietinbank trong vụ án Huyền Như. Không biết, Tòa án Nhân dân tối cao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – họ có đặt hai vụ án này (Vũ Thanh Tùng và Huyền Như) lên bàn làm việc để thấy những sai trái trong xử lý từ hệ thống của họ hay không?

Áp dụng tương tự vụ án khác:

“[(Dân trí) – Lợi dụng lòng tin của nhiều người, Tùng đã “đặt bẫy” khi khách hàng gửi tiền ngân hàng để chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng.

Ngày 25/11, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên xét xử và tuyên phạt Vũ Thanh Tùng (32 tuổi, ở Long Biên, Hà Nội) tù chung thân về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Theo tài liệu của cơ quan điều tra, Vũ Thanh Tùng vốn giữ chức Phó trưởng Phòng khách hàng, kiêm Trưởng quỹ tiết kiệm Long Biên của một ngân hàng từ năm 2011.

Sau một thời gian làm việc, được một số khách hàng tín nhiệm nên nhờ Tùng làm thủ tục thu tiền, gửi tiền ngay tại nhà của khách hàng hoặc rút tiền ra khỏi ngân hàng mà không cần phải đến phòng giao dịch.

Mỗi khi có giao dịch phát sinh, những khách hàng thân thiết với Tùng chỉ việc ngồi nhà nhận thẻ tiết kiệm hoặc nhận tiền và ký vào các chứng từ để ngân hàng đưa vào hồ sơ… Sau một thời gian được ngân hàng cho áp dụng loại hình giao dịch này, Tùng thấy đây là kẽ hở rất lớn để chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng nên lập tức ra tay thực hiện.

Hành vi phạm tội của Tùng được xác định, Tùng lấy mẫu thẻ tiết kiệm của ngân hàng, sau đó mang ra cửa hàng photocopy ở gần nhà in ra hàng chục thẻ tiết kiệm giả. Khi khách hàng có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm, Tùng hướng dẫn và mở tài khoản cho họ, rồi đăng ký Ebanking (chuyển tiền tự động) nhưng không thông báo cho khách hàng biết.

Sau đó, Tùng yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản để xác lập số tiền họ gửi tiết kiệm. Sau cùng, Tùng in các thông tin cá nhân của khách hàng, số lượng tiền gửi, lãi suất và thời hạn gửi tiền lên thẻ tiết kiệm giả, rồi mang đến tận nhà giao cho họ. Ngay sau khi khách hàng chuyển tiền, Tùng nhanh chóng sử dụng dịch vụ Ebanking để chuyển tiền sang tài khoản cá nhân của mình để chiếm đoạt.

Bên cạnh đó, Tùng còn ký giả chữ ký của các kiểm soát viên, giao dịch viên, trưởng phòng kế toán, nhân viên kho quỹ trên thẻ tiết kiệm giả. Với khách hàng chuyển từ tiền tiết kiệm sang hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn thì Tùng ký giả chữ ký của vị Phó giám đốc chi nhánh của ngân hàng này.

Cơ quan điều tra xác định Tùng đã chiếm đoạt tổng cộng hơn 24,7 tỷ đồng của 10 khách hàng gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng này… Ngoài bị tuyên phạt mức án tù chung thân thì Vũ Thanh Tùng còn bị tuyên buộc phải bồi thường cho ngân hàng toàn bộ số tiền hơn 24,7 tỷ đồng vì ngân hàng này đã hoàn trả tiền cho các khách hàng bị Tùng lừa đảo]”.

(Nguồn trích dẫn: “Đặt bẫy” khách hàng gửi tiền ngân hàng, chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng; bài báo của phóng viên Lê Tú; cập nhật 26/11/2014 – 06:51; đăng trên dantri.com.vn/kinh-doanh/dat-bay-khach-hang-gui-tien-ngan-hang-chiem-doat-gan-25-ty-dong-999859.htm).

Vậy, tại sao vụ án Huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên, thì các cơ quan tố tụng hình sự và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại xử lý theo các chiều hướng làm sai lệch sự thật của vụ án, vận dụng chưa đúng đắn Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là Luật các tổ chức tín dụng 2010), Luật kế toán 2003 – Có thể lý giải điều này, bởi giả định về các kịch bản của họ dưới đây:

  1. GIẢ ĐỊNH VỀ “KỊCH BẢN” THỨ NHẤT:Dấu hiệu dồn hết hậu quả pháp lý về kinh tế và hình sự từ Vietinbank cho Huyền Như trong quá trình tố tụng hình sự sơ thẩm (vòng 1)?

Nhìn tổng quát, ở nghi vấn thứ nhất, chúng ta thấy Huyền Như trong quá trình vi phạm pháp luật đến khi bị bắt đang lần lượt là cán bộ có chức vụ của ngân hàng Vietinbank (quyền Trưởng phòng Giao dịch Điện Biên Phủ trực thuôc chi nhánh Vietinbank TP HCM, Phó phòng quản trị rủi ro chi nhánh Vietinbank TP HCM).

Chúng ta có quyền đặt ra một nghi vấn là: khi phát hiện Huyền Như có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Vietinbank đã chủ động cho Huyền Như thôi chức quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ – Nhưng họ lại có chủ ý đưa Huyền Như về làm phó Phòng quản trị rủi ro chi nhánh Vietinbank TP HCM. Chủ ý của họ là tiếp tục khai thác năng lực của Huyền Như để sữa chữa những sai phạm liên quan đến Huyền Như (trong đó có việc tự ý tất toán các tài khoản tiết kiệm – sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB – Huyền Như có thể là “quân sư” trong vụ này). Trong quãng thời gian này, Vietinbank ngày càng phát hiện thêm các hành vi vi phạm trầm trọng của Huyền Như – vượt khả năng xử lý của Vietinbank. Đến lúc này thì Vietinbank mới bung ra – Ngân hàng Vietinbank chủ động tố cáo sai phạm của Huyền Như với cơ quan công an. Đồng thời Vietinbank thuê những luật sư giỏi vào cuộc, hồ sơ vụ án được Vietinbank cập nhật đầy đủ. Như vậy, Vietinbank ngoài việc họ vắt hết năng lực còn sót lại của Huyền Như – Đồng thời, họ cũng có thể sử dụng sức mạnh của đồng tiền, sử dụng ảnh hưởng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (viết tắt là: NHNN) – Thì đến đây, họ lại có thêm bộ tham mưu (các luật sư) có khả năng vạch kế hoạch tác động vào quá trình tố tụng hình sự và dân sự nhằm có thể dẫn dắt các cơ quan tố tụng đi theo kịch bản của Vietinbank. Nếu thế, chúng ta có thể phân tích những yếu điểm có khả năng cho kịch bản giả định này là:

Thứ nhất là: cán bộ quản lý chủ chốt ở Vietinbank là do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bổ nhiệm, vì NHNN nắm giữ cổ phần chi phối trên 51 % tại Vietinbank. Do đó, bất cứ việc qui kết nào về sai phạm do hệ thống của Vietinbank thì đều có ảnh hưởng xấu đến công tác cán bộ của NHNN, ảnh hưởng xấu đến Thống đốc NHNN và Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng Vietinbank.

Thứ hai là: giả định rằng, hậu quả pháp lý về kinh tế và hình sự của Vietinbank dồn hết cho Huyền Như, thì Huyền Như có bị bất lợi không?

Chúng ta nhận thấy, làm như thế Huyền Như hoàn toàn không bị bất lợi, mà còn chiếm được ưu thế có lợi cho mình. Nếu Huyền Như là người thông minh, thì không những cô ta an phận đón nhận kịch bản này, mà còn có khả năng dẫn dắt các điều tra viên hoặc cùng các điều tra viên viết nên một kịch bản hay nhất có lợi cho mình và cho Vietinbank và cuối cùng là có lợi cho thành tích “to lớn” của cán bộ điều tra và cơ quan điều tra:

“… Ngày 29-5, phiên toà xử bầu Kiên và đồng phạm bước sang ngày thứ 9 với phần bào chữa của các luật sư gỡ tội cho các bị cáo. …

… Luật sư trích bút lục Huyền Như khai tại cơ quan điều tra: “Thực tâm lúc đầu tôi không có ý định gì. Nhưng đến khoảng tháng 8-2011 tôi bị sức ép từ các khoản nợ nên mới tìm cách rút tiền”. Ra toà, Như mới khai lại vì một lý do nào đấy là có ý định từ trước.

Theo luật sư, các giao dịch của nhân viên Ngân hàng ACB là thật, chữ ký thật, hợp đồng thật. Tiền gửi chỉ mất, chỉ rủi ro khi rút khỏi Ngân hàng Vietinbank”.

(Nguồn trích dẫn: “Xử bầu Kiên: Ngân hàng ACB từ chối vai trò bị hại”, Bài báo của phóng viên Nguyễn Quyết, cập nhật ngày 29/05/2014; đăng trên NLĐ).       

Bước đầu tiên, là có thể tránh bị pháp luật soi vào công tác cán bộ, nên có thể tránh bị qui kết vào tội danh liên quan đến cán bộ có chức vụ, khả năng thoát án tử hình là rất cao.

Bước sau đó, là chỉ bị qui kết vào hành vi làm giả con dấu và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vậy là Huyền Như nhận bồi thường hết thay cho Vietinbank nhưng bảo toàn được mạng sống; được sống rồi thì sau này sẽ tính tiếp.

Giả định về kịch bản thứ nhất cho chúng ta thấy cả ba bên cùng có lợi:

Huyền Như nhận hết tội trạng do mình gây ra, mà không hề than vãn hay đổ lỗi tí nào cho hệ thống của Vietinbank. Do đó, Huyền Như chỉ bị Tòa sơ thẩm tuyên phạt tù chung thân (tức là được sống). Với án tù chung thân, thì việc Huyền Như bị phán quyết phải bồi thường số tiền to lớn cho các bị hại, thì chẳng khác nào giao cho Huyền Như một quả “bong bóng” có xác xuất trở về con số không là điều mà ai cũng dễ dàng nhận thấy.

Ngân hàng Vietinbank được Tòa sơ thẩm tuyên không có trách nhiệm bồi thường các khoản tiền gửi của khách hàng, mà Huyền Như đã dùng các thủ đoạn gian dối và chức quyền để chiếm đoạt từ ngân hàng Vietinbank. Đồng thời, vẫn còn các khoản tiền khá lớn mà Vietinbank đang chiếm giữ bất hợp lệ (từ hành vi tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm trái pháp luật) – Nhưng, lại được các cơ quan tố tụng hình sự né tránh mà không thu hồi cho vụ án. Công tác cán bộ của NHNN và Vietinbank cũng được bảo đảm không bị phanh phui:

“VOV.VN -Hôm nay (29/5), phiên tòa tiếp tục với phần tranh luận của các luật sư và phần tranh luận trước Tòa của các bị cáo…

9h30: Bổ sung bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về tội Cố ý làm trái, luật sư Vũ Xuân Nam nhấn mạnh, về hành vi ủy thác tiền gửi. Luật sư Nam nói: “Điều kỳ lạ là cơ quan điều tra không có động thái thu hồi số tiền 718 tỷ đồng bị chiếm đoạt, khác với động thái thu hồi số tiền 264 tỷ đồng mà bầu Kiên bị quy kết là lừa đảo để chiếm đoạt của tập đoàn Hòa Phát”. 

(Nguồn trích dẫn: Nguyễn Đức Kiên và các bị cáo đưa lý lẽ tự bào chữa trước Tòa, bài báo của phóng viên Việt Đức, cập nhật lúc: Thứ 5, 17:20, 29/05/2014; đăng trên vov.vn).

Bên thứ ba cuối cùng có thể nhận thành tích “to lớn” là cơ quan điều tra. Chỉ tội nghiệp và đáng thương cho các kiểm sát viên được ủy quyền, thẩm phán, chủ tọa phiên tòa tại phiên tòa sơ thẩm “hùng hùng hổ hổ” buộc tội và tuyên án rất đanh thép cho một kịch bản giả định nêu trên, vì họ không có thẩm quyền làm toàn bộ vụ án, lại càng không có khả năng bác bỏ hồ sơ vụ án đồ sộ như thế. Hơn thế nữa, ở một chiều hướng khác, họ cũng muốn khẳng định năng lực thông qua việc được tham gia truy tố, xét xử vụ án lớn – Một thành tích, có thể đeo bám suốt cuộc đời còn lại của họ.

Chỉ đến khi xét xử phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) và phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên, thì giả định về kịch bản thứ nhất này mới bị tổn thất – Do, Tòa phúc thẩm có trách nhiệm mới là bảo vệ công lý cho “nguyên đơn dân sự có yếu tố đầu tư nước ngoài SBBS” trong vụ án (xem ở giả định về kịch bản thứ 3 – ngay sau giả định về kịch bản thứ 2).

  1. GIẢ ĐỊNH VỀ “KỊCH BẢN” THỨ HAI:Dấu hiệu dồn án và dồn tội cho Nguyễn Đức Kiên trong quá trình tố tụng hình sự sơ thẩm, phúc thẩm?

Tâm lý của những người tham gia phá án, thẩm định, truy tố, xét xử (các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán; các chuyên gia về kinh tế tài chính hay ở các lĩnh vực khác được trưng dụng) là họ rất vui mừng khi bắt được con mồi to, vì thành tích sẽ rất cao. Thông thường, ai làm công việc này cũng dễ có tâm lý như thế thôi, và chuyện này là bình thường – nếu như họ không sử dụng các thủ đoạn sai trái để bắt tội con mồi, hoặc do họ không đủ kiến thức nghiệp vụ căn bản dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ án. Hoặc họ học quá chuyên sâu về Chủ nghĩa Marx – Lenin mà lại tham gia đánh kinh tế thị trường thì càng để lại nhiều nghi vấn hơn. Có hiện tượng cùng nhau làm sai lệch hồ sơ để cùng nhau hưởng thành tích có lẽ cũng không hiếm, mỗi người tham gia chỉ cần mồi cho nhau một chút, và động tác sau cùng là người nhạc trưởng chỉ cần chau chuốt lại thành hệ thống mắt xích chặt chẽ và rất dễ dàng qua mặt cấp trên và công chúng.

Đứng trong bối cảnh vụ án Huyền Như khi đó, thì nhìn thấy Nguyễn Đức Kiên đang có vết, nhưng cũng đang “gáy” rất to. Ước gì mà nhốt Nguyễn Đức Kiên lại, không những thế mà suốt đời không cho ông ta “gáy” nữa thì ông Mặt trời mới chịu lặn. Nếu thế, chúng ta có thể phân tích những “yếu điểm” có khả năng dẫn đến kịch bản giả định này:

Thứ nhất: Nguyễn Đức Kiên không giống Huyền Như, sau lưng ông ta là thế lực của đồng tiền và thế lực của người nổi tiếng được công chúng ngưỡng mộ và ủng hộ. Mặc dù có vết, nhưng thành quả của ông ta thì rất lớn. Do đó, cần có một nhu cầu phân tán sức mạnh của ông ta đồng thời dồn tội cho ông ta để tạo ra một đòn hiểm thì mới hạ gục được.

Thứ hai: phải tách Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải ra khỏi vụ án Huyền Như. Việc này cần thiết phải làm để phân tán sức mạnh của Nguyễn Đức kiên và ngân hàng Á Châu (ACB) nhằm tạo ra cục diện hoàn toàn có lợi cho Vietinbank trong việc thoái thác trách nhiệm từ hậu quả pháp lý của vụ án Huyền Như. Vì nếu để Nguyễn Đức Kiên tham gia thì lực lượng của ông ta có thể nắm thế chủ động trong vụ án Huyền Như, làm cho Vietinbank có khả năng phải chịu hậu quả pháp lý trong vụ án Huyền Như, công tác cán bộ của NHNN và của Vietinbank sẽ bị phanh phui. Việc tách Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải ra khỏi vụ án Huyền Như là thắng lợi đầu tiên của “giả định” về kịch bản tác động vào quá trình tố tụng hình sự. Đến phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Đức Kiên, thì Hội đồng xét xử chỉ việc bác các cáo buộc về hậu quả pháp lý đối với Vietinbank (với lý do: nội dung này đã xét xử trong vụ án Huyền Như rồi).

Đến đây, chúng ta nhìn thấy đòn đánh của liên minh không qui ước (ngầm hiểu là chủ động và có cùng mục tiêu phải thắng đối phương – Theo giả định là cán bộ điều tra và cơ quan điều tra, Vietinbank, Huyền Như) đã làm phân tán sức mạnh của Nguyễn Đức Kiên và ACB thành công. Lực lượng luật sư hùng hậu của Nguyễn Đức Kiên và ACB đã bị vô hiệu hóa trong cuộc chiến pháp lý với Vietinbank khi họ khai chiến tại Hà Nội đối với một việc đã được xem xét trong một phiên tòa sơ thẩm vụ án Huyền Như ở TP. HCM rồi (những lời biện hộ của họ như gió thổi vào không trung mênh mông).

Tách Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải ra khỏi vụ án Huyền Như là một đòn kép cực kỳ lợi hại. Ngoài việc phân tán làm cho sức mạnh của Nguyễn Đức Kiên yếu đi, thì nó còn là đòn hiểm ác để dồn tội cho bầu Kiên. Đến đây, chúng tôi cho rằng tiếp theo bạn đọc đã có khả năng suy luận sâu sắc hơn “đòn dồn tội” này.

Chúng tôi dành thời gian để nói thêm về “đòn dồn tội” này rộng hơn một chút, là nó được duy trì từ khi bắt đầu có tư duy tách án cho đến phút cuối cùng của phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Đức Kiên. Đó là việc bản án sơ thẩm phiên tòa Nguyễn Đức Kiên đã đồng loạt giảm hình phạt tù khá lớn cho toàn bộ các bị cáo (trừ Nguyễn Đức Kiên) so với khung lượng hình trước đó. Mục tiêu cuối cùng của kịch bản này là phân hóa Nguyễn Đức Kiên với toàn bộ các bị cáo khác (đó cũng là một trong các phương pháp dồn tội cho một người). Kịch bản nhắm đến mục tiêu làm cho các bị cáo được giảm án sẽ so sánh lợi ích trong điều kiện bị pháp luật chế phạt mà giảm theo hùa với bầu Kiên trong việc kiên trì đấu tranh cho bản thân mình bị oan sai hay bị phạt tù quá nặng. Do đó, Nguyễn Đức Kiên sẽ cảm thấy bị lẻ loi – khi thấy các đồng minh của mình không còn muốn đi cùng con đường tranh đấu đòi công lý với mình nữa dù có thể tất cả trong số các bọn họ đều kháng cáo – và dù cho, kết quả tại phiên tòa sơ thẩm chưa phải là cuối cùng:

“(GDVN) – Bị cáo Nguyễn Đức Kiên đã nhận 30 năm tù giam, nhưng bên cạnh đó, nhiều bị cáo nhận án nhẹ. Có vấn đề gì phía sau mức án đã tuyên? …

… Trong số 8 bị cáo của vụ án, có đến 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn khá nhiều so với đề nghị của Viện kiểm sát. Đó là, bị cáo Nguyễn Thị Hải Yến (SN 1969): 5 năm tù giam, giảm so với đề nghị 7 đến 8 năm tù; Trần Ngọc Thanh (SN 1952):  5 năm 6 tháng tù giam, giảm so với đề nghị 9 đến 10 năm tù; Lý Xuân Hải (SN 1965): 8 năm tù và cấm đảm nhiệm các chức vụ ngân hàng trong 5 năm, giảm so với đề nghị từ 12 đến 14 năm tù; Trịnh Kim Quang (SN 1954): 4 năm tù giam, giảm so với mức đề nghị là 6 đến 7 năm tù; Lê Vũ Kỳ (SN 1956): 5 năm tù giam, giảm so với mức đề nghị từ 7 đến 8 năm tù.

Dựa theo quy định của pháp luật, phía tòa án đã căn cứ vào các chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cuối cùng đi đến kết luận. Kết luận ở đây là mức án dành cho các bị cáo và quan điểm là phải đúng người, đúng tội, đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên, ở vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, có đến 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn so với đề nghị trước khi kết thúc phiên tòa đã gây nhiều hoài nghi”.

(Nguồn trích dẫn: Vụ bầu Kiên: “Có đến 5 bị cáo được tuyên án quá nhẹ là bất thường”, bài báo của phóng viên Lâm Phong, đăng ngày 09/06/14 15:24 trên giaoduc.net.vn).

Chúng ta thấy, giả định về một kịch bản như trên nó phải là tác phẩm của các chuyên gia chuyên nghiệp và có thực quyền, thực hiện công phu, sự tham gia của nhiều người, sự hiệp thương của các cơ quan tố tụng hình sự từ khâu điều tra, truy tố, xét xử theo một chiến lược hệ thống. Do đó, việc phát giác các thủ đoạt sai trái trong giả định này là rất khó khăn, nếu như các lực lượng của bầu Kiên Và ACB không có khả năng tổng hợp và phân tích theo một chiến lược hệ thống, mà chỉ biết đánh du kích theo kiểu phân tán rời rạc, hoặc không thể kết hợp giữa kiến thức pháp luật của Luật sư với kiến thức chuyên môn về dân sự – kinh tế – tài chính – kế toán – tín dụng của các chuyên gia, hoặc không tìm ra được yếu điểm trong kịch bản (của liên minh không qui ước) để đương đầu và phản công lại – Đó, là những then chốt của toàn bộ vấn đề.

“Sau 10 ngày xét xử (từ 28/11 đến 15/12/2014), TANDTC đã tuyên án ông Nguyễn Đức Kiên và 6 bị can khác đều là nguyên thành viên HĐQT ngân hàng ACB. …

… Với các nhận định và đánh giá như vậy, TANDTC đã tuyên phạt ông Kiên và 5 bị can khác mức án không có gì thay đổi so với tòa sơ thẩm đã tuyên. Chỉ riêng ông Lê Vũ Kỳ được giảm án từ 5 năm xuống còn 4 năm”.

(Nguồn trích dẫn: “Kết thúc phúc thẩm, bầu Kiên vẫn y án 30 năm”, bài báo của phóng viên Lan Nhi, cập nhật hôm thứ hai, 15/12/2014, 18:19 (GMT+7); đăng trên thesaigontimes.vn).

Phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên đã kết thúc ngày 15/12/2014, mà kết quả hầu như không thay đổi (thay đổi không đáng kể) so với bản án của phiên tòa sơ thẩm – Điều đó, cho thấy rằng: giả định kịch bản có dấu hiệu dồn án và dồn tội cho Nguyễn Đức Kiên là khả thi, và “liên minh không qui ước” đã thắng.

  1. GIẢ ĐỊNH VỀ “KỊCH BẢN” THỨ BA: dấu hiệu làm “kịch bản” bảo vệ lợi ích cho “nguyên đơn dân sự có yếu tố đầu tư nước ngoài SBBS”trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự phúc thẩm (vòng 1) của vụ án Huyền Như và phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên?

Nếu như trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm (vòng 1) có dấu hiệu làm kịch bản từ cơ quan điều tra của Bộ công an, cơ quan truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Và sau đó, là các kiểm sát viên được ủy quyền công tố, HĐXX sơ thẩm ở địa phương – họ, phải gánh đủ – vì họ không có khả năng lái vụ việc đi ngược dòng với kịch bản của các cơ quan tư pháp ở trung ương, dẫn đến không có khả năng phán quyết độc lập, đặc biệt là rất yếu kém trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1).

Thì trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự phúc thẩm (vòng 1), sự tham gia làm kịch bản đã được mở rộng từ cơ quan điều tra của Bộ công an, cơ quan truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đến cơ quan xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao.

Vấn đề đặt ra trong quá trình tố tụng phúc thẩm là phải giải quyết bài toán: “nguyên đơn dân sự có yếu tố đầu tư nước ngoài SBBS”. Vấn đề này, nó vượt ra ngoài phạm vi chủ quyền pháp lý của Việt Nam, mà nếu xử lý không đúng đắn thì sẽ có nhiều thế lực soi vào khiến cho Việt Nam có thể mang điều tiếng xấu, ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời cộng đồng doanh nhân Việt Nam và người Việt Nam xuất khẩu lao động có thể bị trả đũa trên trường quốc tế, gây bất lợi cho Việt Nam.

Đây là điều mà Vietinbank và “liên minh không qui ước” đã có thể ngờ tới, và nay trở thành hiện thực, khiến cho những điều phù phép của họ có thể làm cho “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” không phải lúc nào cũng “thiêng”.

Theo logic của sự việc, nếu tách án thì người ta phải xử phúc thẩm nội dung tiền gửi của nhân viên ngân hàng ACB tại ngân hàng Vietinbank trong vụ án Huyền Như để xác định hậu quả trước, rồi mới tiến hành xử phúc thẩm nội dung có dấu hiệu sai trái của các lãnh đạo ngân hàng ACB trong việc ủy thác tiền cho nhân viên đi gửi tại ngân hàng Vietinbank (trong vụ án Nguyễn Đức Kiên). Vì phải chứng minh hậu quả thiệt hại, thì mới qui trách nhiệm cho nhóm cựu lãnh đạo ngân hàng ACB được.

Nhưng mà Liên ngành Tư pháp Trung ương họ làm ngược lại, họ xử phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên trước (từ ngày 28/11/2014 đến ngày 15/12/2014), xử phúc thẩm vụ án Huyền Như sau (từ ngày 15/12/2014). Điều này cho chúng ta nhận định, kết quả xét xử phúc thẩm 2 vụ án này đã được định đoạt trước khi mở các phiên tòa phúc thẩm. Trong kịch bản này, người ta cho phép công tố viên và HĐXX phúc thẩm lái ngược một phần kịch bản của qúa trình tố tụng hình sự sơ thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1).

Thế nhưng mà, để “kịch bản” không bị phản ứng mạnh mẽ của giới doanh nhân trong nước, thì khi HĐXX bảo vệ cho “nguyên đơn dân sự có yếu tố đầu tư nước ngoài” là Công ty Cổ phần chứng khoán SaigonBank Berjara (SBBS) của Malaysia. Thì những nguyên đơn dân sự tương tự như trường hợp SBBS là 4 công ty khác (Công ty Cổ phần chứng khoán Phương Đông, Công ty Hưng Yên, Công ty Bảo Hiểm Toàn Cầu và Công ty An Lộc) cũng đương nhiên được HĐXX bảo vệ.

Điều mà HĐXX phúc thẩm vụ án Huyền Như tuyên hủy một phần bản án sơ thẩm (vòng 1) để điều tra, xét xử lại đối với tội danh của Huyền Như và tài sản của 5 công ty nói trên – nó như một “quả đắng” mà Vietinbank và “liên minh không qui ước” phải rùng mình, để chính họ phải ngậm lại “quả đắng” do họ tạo ra.

Tuy nhiên, diễn biến của vụ án là khó lường, có thể các thành viên trong “liên minh không qui ước” vẫn hưởng trọn “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”. Để kéo dài sự “chính ngôn” càng lâu dài càng tốt? Nhưng, Vietinbank vẫn có thể phải gánh phần lớn hậu quả do Huyền Như gây ra theo qui định của Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật hình sự 1999.

  1. DẪN CHỨNG, PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN, CHỨNG MINH MỞ RỘNG.

C.I. PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ ĐẠO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ, VÀ PHÂN ĐỊNH TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CỰU LÃNH ĐẠO ACB TRONG VỤ ỦY THÁC TIỀN GỬI, VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIETINBANK TRONG VỤ HUYỀN NHƯ.

C.I.1. PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ ĐẠO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ, VÀ PHÂN ĐỊNH TRÁCH NHIỆM.

Căn cứ theo Luật kế toán 2003, Luật các tổ chức tín dụng 1997 và 2010, Bộ luật dân sự 2005, Luật chống tham nhũng, Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật tố tụng hình sự 2003, thì quá trình tố tụng hình sự nên chú ý theo các hướng sau:

– Xem xét tội danh theo điều 165 của Bộ luật hình sự 1999 phải trong một thể thống nhất của của cặp phạm trù cấu thành tội phạm: nguyên nhân – kết quả.

Đó là, xem xét dấu hiệu về hành vi “cố ý làm trái” của các cựu quan chức ACB (nguyên nhân), đã có dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” chưa (kết quả)? Theo đó, những người bị quy kết tội danh theo điều 165, họ có quyền bào chữa cho hành vi của mình là đúng pháp luật: không “cố ý làm trái”, song hành với quyền bào chữa cho hành vi của họ: không “gây hậu quả nghiêm trọng”.

Sau đó, HĐXX có thể phân định 04 trường hợp có thể xảy ra là:

Hành vi của của các cựu quan chức ACB là đúng pháp luật, không gây ra hậu quả nghiêm trọng – không có dấu hiệu tội phạm.

Hành vi của của các cựu quan chức ACB là đúng pháp luật, nhưng vụ việc có xảy ra hậu quả nghiêm trọng – thì không cấu thành tội phạm.

Có hành vi cố ý làm trái, nhưng không gây ra hậu quả nghiêm trọng – thì không cấu thành tội phạm.

Có hành vi cố ý làm trái, và đã gây ra hậu quả nghiêm trọng – thì cấu thành tội phạm.

Chúng ta thấy, trong 04 trường hợp có thể xảy ra nêu trên, thì chỉ có duy nhất một trường hợp trong số đó mới cấu thành tội phạm.

Thế nhưng, các phiên tòa xét xử sơ thẩm đến phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) và vụ án Nguyễn Đức Kiên – Thì, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã cố ý tách án, để tách cặp phạm trù cấu thành tội phạm của điều 165 (nguyên nhân – kết quả) để xét xử tách biệt nhau, tước đoạt quyền bào chữa hợp pháp và hợp lệ của các bị can, bị cáo (cựu lãnh đạo ngân hàng ACB) gây ra tù tội và oan sai to lớn cho họ.

Vậy, căn cứ vào các luận điểm vừa nêu trên mà xét thấy có oan sai, thì cấp Giám đốc thẩm (hoặc sau nữa là cấp tái thẩm) phải có trách nhiệm sửa sai đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật về tội danh theo điều 165 của Bộ luật hình sự 1999 mà các cựu lãnh đạo ngân hàng ACB đã bị phạt tù. Đồng thời, cấp Giám đốc thẩm phải đề xuất xử lý về mặt hành chính, dân sự, hình sự đối với những người có trách nhiệm trong các cơ quan tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm – kể cả bồi thường thiệt hại, giáng chức và khởi tố hình sự.

– Thẩm định lại công tác tổ chức, quản lý, điều hành bộ máy kế toán của ngân hàng Vietinbank theo đúng qui định của Luật kế toán.

– Nếu có nghi ngờ, một mình Huyền Như có thể qua mặt được bộ máy kế toán của Vietinbank, thì phải thẩm định lại qui trình nghiệp vụ kế toán tin học có tuân thủ Luật kế toán 2003 hay không. Công việc này là kiểm tra lại hồ sơ hợp đồng lập trình phần mềm kế toán tin học giữa ngân hàng Vietinbank và công ty cung cấp sản phẩm dịch vụ tin học kế toán cho ngân hàng. Trong đó khâu then chốt là thử nghiệm lại xem phần mềm tin học kế toán của Vietinbank có kẻ hở trong qui trình nghiệp vụ kế toán hay không.

Cơ sở pháp lý để thẩm định lại phần mềm kế toán tin học là Luật kế toán 2003 và Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính: “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”. Tại điểm 1.4 của thông tư này quy định rõ:

“1.4. Phần mềm kế toán phải đảm bảo tính bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu

  1. Có khả năng phân quyền đến từng người sử dụng theo chức năng, gồm: Kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) và người làm kế toán. Mỗi vị trí được phân công có nhiệm vụ và quyền hạn được phân định rõ ràng, đảm bảo người không có trách nhiệm không thể truy cập vào công việc của người khác trong phần mềm kế toán của đơn vị, nếu không được người có trách nhiệm đồng ý”. …

Quy định này của Bộ Tài chính cũng phân định rõ cho chúng ta thấy trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi ngân hàng là trách nhiệm của ngân hàng – Chứ không phải là khách hàng, vì khách hàng không có thẩm quyền để truy cập vào phần mềm kế toán của ngân hàng.

– Áp dụng Luật kế toán để xem xét trách nhiệm của Tổng giám đốc, bộ máy kế toán, Hội đồng nghiệm thu phần mềm kế toán tin học nếu các thành phần này có lỗi để cho Huyền Như chiếm đoạt tài sản của ngân hàng Vietinbank.

Các lỗi trên nếu có sẽ là lỗi của hệ thống, mà người phải chịu trách nhiệm cao nhất là Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc xuống đến kế toán viên tại thời điểm của mỗi khâu công việc. Nếu xảy ra theo hướng này (hoặc bất cứ lý do gì), thì Vietinbank cũng phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các khách hàng gửi tiền theo qui định của Bộ luật dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là 2010), Luật kế toán 2003.

Đến đây, chúng tôi thấy cần thiết phải nói thêm là, trong hồ sơ vụ án, các cơ quan tố tụng hình sự nhấn mạnh đến đồng phạm là các cán bộ tín dụng, mà lại bỏ qua vai trò trọng yếu của kế toán viên và bộ máy kế toán, thì đó cũng là một trong những nguyên nhân làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Phải khẳng định lần nữa là: Để bảo vệ tài sản của khách hàng trên tài khoản tiền gửi ngân hàng, là công việc của ngân hàng theo quy định của Luật kế toán 2003, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là 2010). Đồng thời, ngân hàng là doanh nghiệp làm dịch vụ đó cho khách hàng và ngân hàng được hưởng lợi từ dịch vụ đó. Như: dùng tiền gửi của khách hàng để cho vay lại lấy lãi, thu phí quản lý tài khoản đối với khách hàng, bảo đảm tính thanh khoản tiền mặt cho ngân hàng, …

C.I.2. VIỆC TÁCH ÁN LÀ SAI.

Sau đây, chúng tôi sẽ dẫn chứng, phân tích để chứng minh rằng: các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vụ án Huyền Như tách án là sai trái so với quy định đặc thù của điều 165 Bộ luật hình sự, và sai quy trình (trình tự) tố tụng hình sự – trong việc tách nội dung khởi tố, truy tố, xét xử các cựu lãnh đạo ngân hàng ACB trong vụ ủy thác tiền gửi ra khỏi vụ án Huyền Như để gộp chung vào vụ án Nguyễn Đức Kiên:

Điểm nhấn: Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) chưa phân định được sự khác nhau giữa các hành vi:

– Huyền Như chiếm đoạt sổ tiết kiệm (đã xảy ra).

– Huyền Như chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm (của sổ tiết kiệm đó – không xảy ra).

(Tức là, Huyền Như chỉ mới chiếm đoạt được giấy chứng nhận quyền sở hữu tài khoản tiết kiệm (sổ tiết kiệm), chứ Huyền Như chưa chiếm đoạt được tiền trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm (của sổ tiết kiệm đó). Lấy ví dụ tương tự ở lĩnh vực khác (bất động sản) cho dễ hiểu là: đối tượng chiếm đoạn được giấy chủ quyền nhà đất một cách bất hợp pháp, nhưng đối tượng chưa (không) chiếm đoạt được ngôi nhà đó – vì đối tượng biết rằng, nếu tiếp tục chiếm đoạt luôn ngôi nhà là điều không thể được, vì rất nguy hiểm đến tính mạng).

– Huyền Như chiếm đoạt tiền vốn tín dụng của Vietinbank (đã xảy ra).

Do không “phân định” được 03 hành vi nêu trên, dẫn đến việc quy kết Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB là một trong những qui kết có tính chất sai trái trọng yếu nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam.

Một khoản tiền gửi vào ngân hàng có thể có nguồn gốc gắn với hành vi là: hợp pháp và sử dụng hợp lệ, hợp pháp nhưng sử dụng không hợp lệ, bất hợp pháp nhưng hành vi hợp lệ (khó phát hiện ra), bất hợp pháp và hành vi không hợp lệ (dễ bị phát hiện ra).

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến trường hợp tiền gửi của ACB vào Vietinbank thông qua việc ủy thác cho các nhân viên ACB. Bạn đọc nếu quan tâm đến vấn đề này, để có thể tự suy luận cho các trường hợp liên quan khác giống với chủ đề này (ngoài ACB).

Tiền của ACB có nguồn gốc từ tiền gửi của dân chúng và được ACB ủy thác cho nhân viên gửi vào Vietinbank để lấy lãi, cho nên không thể qui kết là bất hợp pháp được, vậy nó sẽ thuộc vào hai trường hợp là: hợp pháp và sử dụng hợp lệ, hoặc hợp pháp nhưng sử dụng không hợp lệ.

Nếu một số cựu lãnh đạo ACB có lỗi trong phi vụ này, thì nguồn gốc tiền của ACB thuộc diện hợp pháp nhưng sử dụng không hợp lệ.

Ngược lại, một số cựu lãnh đạo ACB không có lỗi trong phi vụ này, thì nguồn gốc tiền của ACB thuộc diện hợp pháp và sử dụng hợp lệ.

Dù nguồn gốc tiền gửi như thế nào, thì nó cũng có ranh giới trách nhiệm giữa ngân hàng và người gửi tiền. Đó là khách hàng gửi tiền phải chịu trách nhiệm về nguồn gốc tiền gửi; còn ngân hàng phải chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản tiền gửi của khách hàng theo qui định tại các điều 48, điều 49, điều 50 của Luật kế toán (năm 2003) của Quốc Hội ban hành (kể cả tiền gửi có nguồn gốc bất hợp pháp – nếu được phát hiện ra thì ngân hàng vẫn chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản, xử lý theo đúng qui định của pháp luật – tức là xử lý theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền).

Điều 19, Luật các tổ chức tín dụng 1997:

Điều 19. Trách nhiệm đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp.

  1. Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp. -> 2. Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng có nội dung tương tự như vậy.

Đến đây, chúng ta thấy bao trùm lên tất cả là Huyền Như có dấu hiệu về hành vi chiếm đoạt sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB, tham ô tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng (mở tại ngân hàng Vietinbank), lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank.

Vậy theo Bộ luật dân sự (và Luật kế toán, Luật các tổ chức tín dụng) thì trách nhiệm đối với tiền trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm (kèm sổ tiết kiệm), hay tiền trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền vốn tín dụng của Vietinbank (bị Huyền Như lừa đảo, chiếm đoạt và tham ô) – Thì ngân hàng Vietinbank phải chịu trách nhiệm. Và bản thân Huyền Như cũng có thể bị xử lý theo nhóm dấu hiệu “tội phạm chức vụ” và điều 139 của Bộ luật hình sự 1999 (xem phân tích cụ thể tại mục B.II và B.III ở trên).

ĐẲNG CẤP “RUỒI”:

Việc các cơ quan tố tụng hình sự qui kết một số cựu lãnh đạo ACB “cố ý làm trái”, gây “hậu quả nghiêm trọng” trong phi vụ này (tiền có nguồn gốc hợp pháp, nhưng sử dụng không hợp lệ) – Thì lỗi này (nếu có), cũng hoàn toàn độc lập với lỗi của Vietinbank đã để Huyền Như có dấu hiệu tham ô tiền trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, Huyền Như chiếm đoạt sổ tiết kiệm của khách hàng (nhân viên ACB) – Để rồi sau đó, Huyền Như dùng các sổ tiết kiệm chiếm đoạt này lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank – Chú ý: phân tích và nhận định này, khác với quy kết Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB mà các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) đã áp dụng trong tố tụng hình sự.

Chú ý 1: Lập luận như chúng tôi vừa trình bày, theo nhận thức đơn giản thì việc tách án có vẻ là hợp lệ – nhưng, ở mức tối thiểu thì quy trình xét xử, là phải xét xử vế “gây hậu quả nghiêm trọng” từ khâu Huyền Như có dấu hiệu chiếm đoạt các sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB trước, đồng thời với việc xét xử Huyền Như có dấu hiệu tham ô tiền trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn trước (nếu có) để chứng minh “hậu quả” cho việc xét xử dấu hiệu về hành vi “cố ý làm trái”, đối với các cựu lãnh đạo ACB.

“(TNO) Hôm nay 30.5, tòa sơ thẩm bước sang phần đối đáp giữa Viện kiểm sát, luật sư và các bị cáo. …

… Cũng trong phần đối đáp, đại diện Viện kiểm sát cho biết: Vụ Huỳnh Thị Huyền Như và vụ Nguyễn Đức Kiên có sự liên quan nhưng những hành vi có tính độc lập tương tối nên việc tách rời là đúng pháp luật. Viện kiểm sát khẳng định, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã phản ánh đúng diễn biến thực tế, không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”.

(Nguồn trích dẫn: “Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Đức Kiên 4 tội danh”, bài báo của phóng viên Hà An – Hoàng Tuấn, cập nhật lúc 30/05/2014 14:41; đăng trên thanhnien.com.vn).

Chúng ta nhận thấy là, nhận thức của cơ quan tố tụng hình sự như dẫn chứng vùa nêu mới đạt được đẳng cấp “ruồi”.

ĐẲNG CẤP “GÀ”:

Tuy nhiên, pháp luật thì không đơn giản như trình bày ở đẳng cấp “ruồi” nêu trên – nếu làm theo suy nghĩ đơn giản như vậy sẽ đồng nghĩa với hành vi vi phạm pháp luật.

Lý do là, khi đi vào cụ thể từng điều khoản quy định – Theo đặc thù của điều 165, Bộ luật hình sự 1999, được trích dẫn sau đây thì không được phép tách án:

“Điều 165. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. 

Chú ý 2: Các bạn để ý là Bộ luật hình sự có những điều khoản chỉ xét xử theo hành vi (ví dụ như đưa, môi giới, nhận hối lộ) – Nhưng ngược lại, có những điều khoản phải xét xử hành vi đồng thời với hậu quả do hành vi gây ra – điều 165 thuộc loại thứ hai này. Bởi vì, tội danh theo điều 165 nó phải gắn liền hành vi với hậu quả mà không thể tách rời – Nên, người gây ra hành vi “cố ý làm trái”, có quyền bào chữa cho hành vi “cố ý làm trái” của mình không “gây hậu quả nghiêm trọng”- tức là họ không có tội.

Theo quan sát của chúng tôi ở khá nhiều vụ án, thì các cơ quan tố tụng hình sự Việt Nam thường không phân định đúng đắn các quy định đặc thù như vừa nêu của Bộ luật hình sự.

Nhưng thực tế thì sao, Liên ngành tư pháp trung ương họ làm ngược lại. Ở phiên tòa sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên (Tòa ở Hà Nội), lấy lý do “gây hậu quả nghiêm trọng” của vụ việc đã xét xử ở phiên tòa sơ thẩm vụ Huyền Như (ở TP.HCM) rồi, để bác bỏ (không xem xét) các bào chữa trong xét xử sơ thẩm ở vụ án Nguyễn Đức Kiên. Đến phúc thẩm, thì họ lại xét xử hành vi “cố ý làm trái” của các cựu quan chức ACB trước – mà không cần chứng minh “gây hậu quả nghiêm trọng” ở vụ Huyền Như:

Bài báo của plo.vn:

“HĐXX TAND TP Hà Nội nhận định: Bầu Kiên đã làm lũng đoạn thị trường tài chính tiền tệ, không thành khẩn nhận tội…

Về trách nhiệm dân sự, số tiền 718 tỉ đồng đã được giải quyết trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như nên tòa không xem xét”.

(Nguồn trích dẫn: “Bầu Kiên lãnh án 30 năm tù”, bài báo của phóng viên Đức Minh, đăng hôm Thứ Ba, ngày 10/6/2014 – 03:30; trên plo.vn).

Bài báo của tienphong.vn:

“TPO – Sau khi xem xét đầy đủ hồ sơ vụ án, HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Kiên phạm 4 tội danh (Lừa đảo, Trốn thuế, Kinh doanh trái phép, Cố ý làm trái), tuyên phạt 30 năm tù cho cả 4 tội danh. Ngoài ra, khởi tố thêm 2 vụ án xảy ra tại Ngân hàng ACB. …

– 11:11 ngày 09/06/2014

Liên quan đến việc Ngân hàng ACB ủy thác cho 19 nhân viên đi gửi tiền, theo bản án sơ thẩm, đó là vi phạm pháp luật. Về khoản tiền hơn 718 tỷ đồng, HĐXX cho rằng, nội dung này đã được giải quyết trong một vụ án khác, do vậy không xem xét”.

(Nguồn trích dẫn: “Tuyên phạt bầu Kiên 30 năm tù”, bài báo của phóng viên Bảo Thắng, đăng lúc 12:21 ngày 09 tháng 06 năm 2014 trên tienphong.vn)

Vậy là, chúng ta nhận thấy sự vi phạm quy trình tố tụng hình sự trắng trợn của Liên ngành tư pháp trung ương là: họ chẻ điều 165 của Bộ luật hình sự ra làm 2 vế. Vế đầu “cố ý làm trái” thì họ xét xử ở Hà Nội, vế sau “gây hậu quả nghiêm trọng” thì họ xét xử ở TP.HCM. Cách làm này, làm mất khả năng tự bảo vệ, tự bào chữa của các cựu lãnh đạo ACB ở phiên tòa sơ thẩm tại Hà Nội. Đến phúc thẩm, thì họ càng trắng trợn hơn là xử vế đầu “cố ý làm trái” trước, mà không cần biết đến kết quả “gây hậu quả nghiêm trọng” ở phiên tòa phúc thẩm (ở vụ án Huyền Như) khi đó chưa được xét xử.

Theo logic các sự kiện đã diễn ra, thì phiên tòa phúc thẩm vụ Nguyễn Đức Kiên (ở Hà Nội), họ phải lấy kết quả “gây hậu quả nghiêm trọng” xét xử sơ thẩm vụ Huyền Như (ở TP.HCM), để quy kết tội danh cho các cựu lãnh đạo ACB – Lấy kết quả xét xử sơ thẩm ở vụ án Huyền Như chưa có hiệu lực pháp luật, để làm chứng cứ xét xử phúc thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên, để làm thành tội danh cho các cựu lãnh đạo ACB theo điều 165 của Bộ luật hình sự 1999 – đây có thể nói là một vết nhơ trong lịch sử ngành tư pháp Việt Nam.

Mở rộng vấn đề:

Những cái sai tiếp theo của các cơ quan tố tụng hình sự là ở chỗ nào? vì người ta thường nói: không có lửa thì làm sao có khói – tức là có sự thiếu minh bạch trong kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, phán quyết của HĐXX – nên có sự phản đối của dư luận.

Chúng tôi xin chỉ rõ những cái sai tiếp theo của cơ quan tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1), và vụ án Nguyễn Đức kiên như sau:

Qui kết rằng, do các lãnh đạo ACB cố ý làm trái gây hậu quả, nên tiền của ACB mới bị Huyền Như chiếm đoạt, và Huyền Như chiếm đoạt tiền của ACB chứ không phải chiếm đoạt tiền của Vietinbank nên Vietinbank không có trách nhiệm bồi thường. Nếu các lãnh đạo ACB không cố ý làm trái, thì Huyền Như không chiếm đoạt tiền của ACB được:

“10h10: HĐXX tiếp tục làm việc. Mở đầu phần tranh luận, Đại diện VKS đưa ra kết luận truy tố đối với các bị cáo. …
11h00: Đối với hành vi cố ý làm trái, thông qua cuộc họp thường trực HĐQT Ngân hàng ACB ngày 22/3/2010, các bị cáo đã có hành vi ủy thác tiền gửi số tiền 718 tỷ đồng.

Việc các bị cáo thực hiện thông qua Nghị quyết ủy thác trái với quy định của NNHH về ủy thác tiền gửi và trái với luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực ngày 1/1/2011 và các văn bản liên quan.

Đối với số tiền 718 tỷ đồng, sau khi đưa ra những lập luận về sự việc, VKS cho rằng, ACB phải chịu trách nhiệm về số tiền này. Số tiền này bị thất thoát là do các bị cáo đã cố ý làm trái…

“(Nguồn trích dẫn: “Các luật sư bào chữa 4 tội danh bảo vệ bầu Kiên”, bài báo của phóng viên Việt Đức, cập nhật lúc: thứ 3, 17:30, 27/05/2014; đăng trên vov.vn).

Chúng tôi nhận thấy, đây là một qui kết hết sức lố bịch “lí sự cùn” và mang tính chất chụp mũ, phủ đầu đối với ACB, chứ không phân xử theo chứng cứ, hành vi cụ thể, tình tiết, các căn cứ của pháp luật.

Thứ 1 là. Huyền Như chiếm đoạt sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB, dùng các sổ tiết kiệm chiếm đoạt này để lừa đảo lấy tiền của Vietinbank thông qua hình thức vay vốn tín dụng.

Chúng ta cần phân định rằng, việc chiếm đoạt sổ tiết kiệm và việc chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm (của sổ tiết kiệm đó) là 2 hành vi khác nhau. Huyền Như chiếm đoạt được sổ tiết kiệm để dùng cho mục đích lừa đảo lấy tiền tín dụng của Vietinbank – chứ Huyền Như chưa chiếm đoạt được tiền trên tài khoản tiết kiệm (của sổ tiết kiệm đó).

Như vậy, tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB và tiền vốn tín dụng của Vietinbank – đây là 2 món tiền khác nhau trên hệ thống tài chính của Vietinbank – nó chứng minh rằng tài khoản tiền gửi tiết kiệm vẫn còn trên hệ thống, còn tiền vốn tín dụng mà Vietinbank cho Huyền Như vay mới bị Huyền Như lấy mất. Nếu thực hiện đúng chức trách và qui trình nghiệp vụ, Vietinbank có thể ngăn chặn được hành vi lừa đảo của Huyền Như rất dễ dàng. Nhưng vì, bộ máy thối nát của Vietinbank (nơi Huyền Như lừa đảo lấy vốn tín dụng) đã vi phạm nguyên tắc lãnh đạo, quản lý, qui trình nghiệp vụ nên không ngăn chặn được hành vi Huyền Như lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank – chứ Huyền Như chưa chiếm đoạt được tiền gửi của các nhân viên ACB trên tài khoản tiền gửi có kỳ hạn (sổ tiết kiệm).

Rõ ràng là, Huyền Như không dám tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm (của các sổ tiết kiệm đã chiếm đoạt), vì việc tất toán sổ tiết kiệm trước ngày đáo hạn có thể gây nghi ngờ hoặc bị phát giác sớm từ chính các nhân viên của Huyền Như và hệ thống của Vietinbank.

Như vậy, tiền trên tài khoản tiết kiệm của các nhân viên ACB vẫn còn nguyên cho đến thời điểm Vietinbank tự ý tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm trái pháp luật (kèm các sổ tiết kiệm đã bị Huyền Như chiếm đoạt, dùng cho mục đích cầm cố) – Tức là, khi Vietinbank phát hiện ra hành vi mờ ám của Huyền Như, thì tiền trên tài khoản tiết kiệm của các nhân viên ACB vẫn còn nguyên.

Hành vi mà Vietinbank tự ý tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm trái pháp luật, chỉ là sự phản ứng lại hậu quả do hành vi lừa đảo của Huyền Như gây ra cho Vietinbank mà thôi – Nên, hành vi này mang cảm tính của phản xạ tự nhiên và trái pháp luật. Hành vi này của Vietinbank có dấu hiệu “làm trái công vụ”, gây thiệt hại cho khách hàng gửi tiền (các nhân viên ACB) – Nên, những người của Vietinbank tham gia vào quá trình tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm (sổ tiết kiệm) trái pháp luật – thì họ cũng có dấu hiệu phạm tội theo qui định của Bộ luật hình sự 1999:

“Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ  

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, …”

Rõ ràng, dấu hiệu về tài khoản tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB, là chính thức bị chiếm đoạt bởi Vietinbank kể từ thời điểm Vietinbank tự ý tất toán các tài khoản này – chứ không phải là do Huyền Như chiếm đoạt.

Thứ 2 là. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, Luật kế toán 2003, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là 2010) – Tiền trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng bị đánh cắp bằng bất cứ thủ đoạn nào, thì đều thuộc trách nhiệm quản lý tài sản của ngân hàng – đó là ngân hàng bị mất tài sản chứ không phải khách hàng. Các cơ quan tố tụng hình sự chưa từng áp dụng các điều khoản của Luật kế toán 2003, nên không phân định được trách nhiệm của Vietinbank trong vụ tiền gửi có nguồn gốc của ACB (hiện tượng này gọi là: mất kiến thức căn bản trầm trọng trong áp dụng luật pháp). Lỗ hổng kiến thức này là trầm trọng nhất, thì phần lớn mọi người chưa phát hiện ra (kể cả các luật sư tham gia bào chữa).

Thứ 3 là. Đã tách án, mà lại qui kết Huyền Như chiếm đoạt tiền của ACB (từ A – Z) chứ không phải chiếm đoạt tiền của Vietinbank. Đây là một sai lầm cơ bản của các cơ quan tố tụng hình sự mà đa số mọi người đều nhìn thấy (nhưng diễn giải cho có bài bản thì hơi khó, vì phải “dài dòng văn tự”).

Đã qui kết sai, mà lại tách án ra làm cho (A) không còn mối liên hệ với (Z) trong một thể thống nhất nữa, khiến cho sức mạnh bào chữa của phe ACB bị suy giảm, bị đứt mạch (bị bác bỏ trong các phiên tòa xét xử vụ án Nguyễn Đức Kiên, với lý do đã xem xét trong vụ án Huyền Như rồi). Việc làm này của các cơ quan tố tụng hình sự gây ra oan sai, gây ra thiệt hại cho các khách hàng (kể cả những người chịu trách nhiệm ủy thác gửi tiền vào Vietinbank).

Thủ đoạn có dấu hiệu “xảo trá” này của các cơ quan tố tụng hình sự, làm cho các nhân vật liên quan của ACB nói riêng và các khách hàng gửi tiền vào Vietinbank nói chung bị bất lợi trong việc bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho họ.

Cách làm này của các cơ quan tố tụng hình sự có dấu hiệu vi phạm tính đặc thù logic (nhân – quả) của điều 165, vi phạm quy trình và trình tự tố tụng hình sự đối với một tội danh đặc thù như điều 165 của Bộ luật hình sự.

Tóm lược:

Lỗi của các cơ quan tố tụng hình sự:

Một là, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm (vòng 1) chưa phân định được sự khác nhau giữa các hành vi: Huyền Như có dấu hiệu chiếm đoạt sổ tiết kiệm (đã xảy ra), Huyền Như chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm (của sổ tiết kiệm đó – không xảy ra), Huyền Như có dấu hiệu chiếm đoạt tiền vốn tín dụng của Vietinbank (đã xảy ra), Vietinbank có dấu hiệu chiếm đoạt tài khoản tiền gửi của các nhân viên ACB thông qua hành vi tự ý tất toán tài khoản trái pháp luật (đã xảy ra). Do không “phân định” được các hành vi này dẫn đến việc quy kết Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của các nhân viên ACB là một trong những qui kết có tính chất sai trái trọng yếu nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Hai là, qui kết tổng thể từ quyết định ủy thác gửi tiền tiết kiệm của ACB, … đến Huyền Như trong một mối liên hệ thống nhất từ A tới Z (Z chiếm đoạt tiền của A); nhưng lại áp dụng tách án làm phá vỡ mối liên hệ thống nhất thành hai phần tách biệt nhau, làm cho mạch liên kết của vụ án bị cắt đứt đoạn không còn liên hệ được với nhau. Điều này cho thấy, phương pháp tách án của các cơ quan tố tụng hình sự lại mâu thuẫn chống lại chính phương pháp qui kết vụ án của các cơ quan tố tụng hình sự. Đặc biệt là họ vi phạm tính logic đặc thù và quy trình, trình tự tố tụng tội danh theo điều 165 của Bộ luật hình sự.

Ba là, cơ quan tố tụng hình không áp dụng Luật kế toán (2003), dẫn tới vô ý hoặc cố ý tạo điều kiện cho Vietinbank chối bỏ trách nhiệm bồi thường cho khách hàng (có dấu hiệu làm theo kịch bản của kết luận điều tra, cáo trạng và dự thảo bản án). Họ, các cơ quan tố tụng hình sự không nhận thức được tiền trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (tài khoản thanh toán) của khách hàng thuộc trách nhiệm quản lý của ngân hàng, và ngân hàng phải chịu trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự trong việc quản lý loại tài sản này – theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, Luật kế toán 2003, Luật các tổ chức tín dụng 1997 (nay là 2010).

Bốn là, trong vụ án Huyền Như liên quan đến nguồn tiền của ACB, thì không được tách án. Nếu trường hợp các hành vi của một số cựu lãnh đạo ACB rất phức tạp, chưa xác minh làm rõ được, trong khi các mãng khác của vụ án Huyền Như đã rõ ràng và chín muồi không thể trì hoãn xét xử lâu hơn được nữa. Thì có thể, người ta được phép tách nội dung “cố ý làm trái” và “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội danh theo điều 165 để xét xử chung trong một phiên tòa – chứ không phải tách một vế (nguyên nhân) gộp vào vụ án Nguyễn Đức Kiên, tách vế (kết quả) gộp vào vụ án Huyền Như).

Phải bảo đảm cặp phạm trù (nhân – quả) của điều 165 diễn ra trong cùng một phiên tòa – và Bộ luật tố tụng hình sự phải đáp ứng tính logic của Bộ luật hình sự – nếu Bộ luật tố tụng hình sự chưa bảo đảm được yêu cầu có tính nguyên tắc này, thì phải sửa đổi lại.

Nhìn vào thực tế hồ sơ vụ án, chúng ta thấy các hành vi của một số cựu lãnh đạo ACB ủy thác tiền gửi cho nhân viên gửi tiền vào Vietinbank đã quá rõ ràng và rất đơn giản. Thế mà người ta vẫn cố tình tách án ra khỏi vụ án Huyền Như (để nhập vào vụ án Nguyễn Đức Kiên) – Thì chỉ nhằm vào một mục tiêu giả định là: dồn án cho bầu Kiên, dồn hết hậu quả pháp lý về kinh tế và hình sự của Vietinbank cho Huyền Như (trong xét xử sơ thẩm vòng 1).

C.II. NGÂN HÀNG ACB ỦY THÁC CHO NHÂN VIÊN GỬI TIỀN VÀO NGÂN HÀNG VIETINBANK THÌ HOÀN TOÀN HỢP PHÁP VÀ HỢP LỆ THEO CÁC BỘ LUẬT HIỆN HÀNH (TẠI THỜI ĐIỂM CỦA VỤ VIỆC).

Điểm nhấn: các bạn chú ý đến nguyên lý doanh nghiệp hoạt động liên tục, được trình bày ở phần cuối của nội dung này.

Nếu Luật các tổ chức tín dụng 1997 xác minh cho việc các cựu lãnh đạo ngân hàng ACB ủy thác gửi tiền tiết kiệm cho nhân viên là hợp pháp và hợp lệ, thì Nguyên lý doanh nghiệp hoạt động liên tục lại khẳng định, việc ủy thác tiền gửi này trong giai đoạn chuyển tiếp từ Luật các tổ chức tín dụng 1997 qua thực hiện Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng hoàn toàn hợp pháp và hợp lệ.

Chúng tôi muốn lưu ý đến các bạn rằng: luật pháp Việt Nam còn thiếu tính nhất quán giữa các bộ luật với nhau, còn có những điều luật qui định chung chung, thiếu chi tiết, đại khái, mơ hồ, sai ngữ pháp, khó hiểu đối với người dân. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng, các văn bản triển khai dưới luật càng đi xuống, càng mở rộng thì độ vênh nhau càng tăng cao, khiến cho việc vận dụng pháp luật của Việt Nam rất nhức đầu. Để làm rõ vấn đề này, thì chúng ta phải tốn thêm công sức và thời gian để dẫn chứng và phân tích một số bộ luật có liên quan nữa.

Chỉ riêng phần ngữ pháp thôi, thì các bộ luật của Việt Nam đã phạm rất nhiều lỗi ngữ pháp. Ví dụ như, tại điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) trình bày như sau:

“Điều 11. Trách nhiệm phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây: …”

Dùng cấu trúc toán học trong ngữ pháp, để chỉ ra lỗi của câu văn trên như sau:

(E + F)x = (Ex + Fx) ứng với:

(Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng) nước ngoài = Tổ chức tín dụng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Chúng ta nhận thấy, qua phân tích cấu trúc toán học trong ngữ pháp cũng như cách hành văn trong Luật các tổ chức tín dụng (2010) của Việt Nam, thì các ngân hàng Việt Nam đã bị loại ra khỏi cuộc chơi về “văn phong và ngữ pháp” tiếng Việt. Về góc độ ngữ pháp, thì Việt Nam soạn Luật các tổ chức tín dụng 2010 chỉ dành riêng cho ngân hàng nước ngoài.

Tiếp theo, chúng tôi dẫn chứng cụ thể pháp luật liên quan đến nội dung ủy thác trong hoạt động tín dụng là:

Luật các tổ chức tín dụng (1997), số: 07/1997/QH10 ngày 12/12/1997 qui định về ủy thác như sau:

“Điều 72. Nghiệp vụ uỷ thác và đại lý. Tổ chức tín dụng được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng”.

Trong khi đó, mãi đến 13 năm sau, Luật các tổ chức tín dụng (2010), số 47/2010/QH12, ngày 16/6/2010 lại qui định là:

“Điều 106. Nghiệp vụ ủy thác và đại lý. Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

Đồng thời, văn bản triển khai dưới luật của Ngân hàng Nhà nước thì như sau:

“Qui định về ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Quyết định số 742/2002/QĐ-NHNN ngày 17/7/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)”

Thông tư số 04/2012/TT-NHNN, ngày 08/03/2012; qui định về nghiệp vụ nhận ủy thác và ủy thác của tổ chức tìn dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Chúng ta thấy, quyết định 742/2002 chỉ qui định về nghiệp vụ ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng.

Cũng mãi đến 10 năm sau, thông tư 04/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định lại, thì gồm có hai phần là:

– Ủy thác và nhận ủy thác thực hiện nghiệp vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan.

– Và ủy thác và nhận ủy thác để thực hiện cho vay đối với khách hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan.

Chúng ta đọc Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản dưới luật của ngân hàng Nhà nước sẽ không biết hoạt động ủy thác và nhận ủy thác nó có địa vị pháp lý như thế nào? Hoặc nó có mối quan hệ với bộ luật nào trong hệ thống luật Việt Nam? Có lẽ là ngay cả những người soạn thảo và biểu quyết thông qua Luật các tổ chức tín dụng 2010 – Họ cũng không biết, mà chỉ đưa vào luật, vì nó là nghiệp vụ ngân hàng có nguồn gốc du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam.

Trở lại vấn đề chính, chúng tôi tiếp tục trình bày như sau:

Điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng (1997) được trích dẫn nêu trên, cho chúng ta thấy đây là một qui định mở, mà phạm vi hoạt động bao gồm cả các đối tượng là ngân hàng, tổ chức, cá nhân được phép tham gia ủy thác và nhận ủy thác, nếu họ có năng lực dân sự và kinh tế, có cung và có cầu, được đáp ứng theo thỏa thuận: “theo hợp đồng”.

Điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng (1997), không qui định (không chỉ định) ngân hàng Nhà nước can thiệp vào hoạt động ủy thác và nhận ủy thác.

Trong khi đó, cũng chính Luật các tổ chức tín dụng (1997), lại có nội dung qui định quyền hạn hướng dẫn thi hành luật này thuộc về thẩm quyền của Chính phủ:

“Điều 131. Hướng dẫn thi hành luật: Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này”.

Do đó, ngân hàng Nhà nước với quyết định 742/2002 chỉ hướng dẫn một mảng duy nhất là ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng. Như vậy còn các mảng ủy thác và nhận ủy thác khác như ủy thác và nhận ủy thác gửi tiền tiết kiệm, …; thì ngân hàng Nhà nước không hướng dẫn, và ngân hàng Nhà nước cũng không có thẩm quyền cấm các hoạt động ủy thác khác của các tổ chức tín dụng. Đồng thời, Chính phủ cũng không ban hành văn bản cấm các hoạt động ủy thác và nhận ủy thác khác, vì nếu làm như vậy sẽ trái với điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng 1997.

Đồng thời, Luật các tổ chức tín dụng 1997 cũng cho phép ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác:

“Điều 45. Nhận tiền gửi

  1. Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác”.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng 2004:

  1. Điều 45 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 45. Nhận tiền gửi

  1. Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác”.

Luật các tổ chức tín dụng 2010:

“Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: …

  1. Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.

“Điều 98. Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại

  1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác”.

Như vậy, tại điều 45 của Luật các tổ chức tín dụng (1997, sửa đổi 2004) cho phép ngân hàng nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân, và các tổ chức tín dụng khác – Điều đó, có nghĩa là ngân hàng này được phép gửi tiền vào ngân hàng khác.

Và, khoản 13 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 cũng giải thích “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức”. Mà ngân hàng, cũng là một tổ chức – Cho nên, pháp luật không cấm ngân hàng này gửi tiền vào ngân hàng khác theo các hình thức quy định tại khoản 13 vừa nêu.

Luật các tổ chức tín dụng 1997 qui định như vậy là chi tiết và rõ ràng – Nên theo điều 45, thì ACB gửi tiền vào ngân hàng khác để lấy lãi là không phạm luật. Cũng tương tự như vậy khi áp dụng khoản 13 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Và việc ngân hàng Vietinbank nhận tiền gửi của nhân viên ACB hay của ngân hàng ACB theo mức lãi xuất đã công bố công khai, thì đều không vi phạm pháp luật.

Đồng thời, điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng 1997 qui định cho ngân hàng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng với tổ chức và cá nhân theo hợp đồng – rõ ràng nó không bị trói buộc như Luật các tổ chức tín dụng 2010 – Do đó, theo điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng 1997, thì ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào Vietinbank là không phạm luật. Vì vậy, nếu NHNN chỉ hướng dẫn ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của tổ chức tín dụng, thì việc ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền, sẽ thực hiện theo qui định của Luật dân sự.

Đến đây, đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định rằng: Nghị quyết của Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB về việc ủy thác cho nhân viên gửi tiền tiết kiệm được ban hành ngày 22/03/2010 hoàn toàn phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng (1997, sửa đổi 2004), cũng phù hợp với Bộ luật dân sự 2005, và cũng không trái với các văn bản hướng dẫn dưới luật của cơ quan chức năng. Vì vậy, họ phải được Tòa án tuyên không phạm tội đối với nội dung ủy thác tiền gửi tiết kiệm.

Cho dù có ý kiến cho rằng, Luật các tổ chức tín dụng (2010) đã thay đổi so với Luật các tổ chức tín dụng (1997). Nhưng chúng ta đều thấy rằng, mãi đến ngày 08/03/2012, ngân hàng Nhà nước mới ban hành thông tư số 04/2012/TT-NHNN để thay thế quyết định số 742/2002. Thì trong thời gian chuyển tiếp này, ngân hàng ACB thực hiện ủy thác tiền gửi cho nhân viên thì không sai:

Lý do là, một trong những nguyên lý hoạt động của doanh nghiệp là liên tục – Nguyên lý doanh nghiệp hoạt động liên tục, là tiền đề cho Chính phủ thu thuế liên tục, giúp cho Chính phủ và chính quyền ở các địa phương hoạt động liên tục – Do đó, việc xây dựng pháp luật về quản lý kinh tế cần phải tuân theo nguyên lý doanh nghiệp hoạt động liên tục. Pháp luật cũng như công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động liên tục (trừ trường hợp bất khả kháng do kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản, thiên tai địch họa, kỳ nghĩ lễ quốc gia, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyết định của Đại hội đồng Cổ đông hoặc Hội đồng thành viên của doanh nghiệp).

Như vậy, khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành quyết định buộc ngân hàng ACB dừng hoạt động ủy thác tiền gửi cho nhân viên để chờ ban hành văn bản hướng dẫn mới, thì doanh nghiệp vẫn có quyền hoạt động liên tục cho đến khi có văn bản hướng dẫn mới thay thế văn bản hướng dẫn cũ (của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo qui định tại điều 106 Luật các tổ chức tín dụng 2010).

Nhìn chung, đây là một trong các hình thức hoạt động có tác dụng điều hòa vốn giữa các tổ chức tín dụng với nhau, và nó còn có tác dụng tốt hơn là việc can thiệp thô bạo từ phía ngân hàng Nhà nước. Dĩ nhiên, khi nguồn cung được đáp ứng đến một mức bão hòa nào đó, nó sẽ phát tín hiệu điều chỉnh tăng (giảm) lãi suất huy động.

Trong quá trình thực hiện Luật các tổ chức tín dụng 1997, Ngân hàng Nhà nước có tạo lập thị trường mở liên ngân hàng – Một trong các giải pháp tốt để điều hòa thị trường vốn, nhưng nó có tác dụng cạnh tranh với các hình thức điều hòa vốn khác trên thị trường – Nếu phát triển mạnh, thì nó làm triệt tiêu các hình thức điều hòa vốn khác, chứ nó không thể cấm các hình thức điều hòa vốn khác trên thị trường đang vận hành theo Luật các tổ chức tín dụng 1997 được.

Dấu hiệu sai trái của các cơ quan tố tụng hình sự, khi áp dụng Luật các tổ chức tín dụng 2010 cho vụ án:

Luật các tổ chức tín dụng 2010:

“Điều 106. Nghiệp vụ ủy thác và đại lý

Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

Điểm nhấn: Việc tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên, các Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Đại diện Ngân hàng Nhà nước thường hay dẫn chứng nội dung của điều 90 và điều 106 Luật các tổ chức tín dụng 2010 để trấn áp các luật sư và buộc tội các cựu lãnh đạo ngân hàng ACB trong việc ủy thác tiền gửi cho nhân viên. Đây là hành vi có dấu hiệu sai phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi họ áp dụng hồi tố trái pháp luật.

Vì nguyên lý bất hồi tố liên quan đến trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự là: không được phép áp dụng điều kiện ràng buộc cho hành vi theo Bộ luật mới để buộc tội cho cùng hành vi đó trong quá khứ đã áp dụng phù hợp với Bộ luật cũ (tức là Bộ luật mới có tính trói buộc, còn Bộ luật cũ có tính gợi mở và thông thoáng). Trong trường hợp này, pháp luật phải qui định thời hạn chuyển tiếp để áp dụng theo Bộ luật mới. Nếu pháp luật không qui định thời hạn chuyển tiếp, thì những tồn tại của Bộ luật cũ đương nhiên kéo dài cho đến khi có văn bản hướng dẫn mới (nếu Luật mới có qui định phải hướng dẫn thực hiện).

Trường hợp ủy thác tiền gửi của ngân hàng ACB, thì được kéo dài cho đến khi Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư 04/2012/TT-NHNN, ngày 08/03/2012. Trong khi đó, Huyền Như bị bắt trước năm 2012 đã chứng minh ACB ủy thác tiền gửi trước ngày 08/03/2012, thì hoàn toàn không vi phạm pháp luật.

Ngược lại, nếu Bộ luật cũ có tính trói buộc mà Bộ luật mới lại có tính tháo gỡ và thông thoáng, thì những người đã bị xử lý bởi tính trói buộc của Bộ luật cũ sẽ được hưởng lợi bởi ưu thế của Bộ luật mới mang lại cho họ, thời gian chịu chế phạt còn lại của họ (bởi Bộ luật cũ) sẽ bị dỡ bỏ tức thì kể từ ngày Luật mới có hiệu lực thi hành, vì việc này mặc nhiên được thừa nhận mà không cần phải hướng dẫn hay giải thích nữa.

Điều đáng nói ở đây, là các quan tòa trong HĐXX sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên – họ không hội đủ kiến thức để “luận giải” sự việc, mà phải dựa vào ý kiến trực tiếp của vị đại diện Ngân hàng Nhà nước. Và họ (HĐXX), cũng không thể đánh giá được ý kiến của vị đại diện Ngân hàng Nhà nước là đúng hay sai, theo như trích dẫn sau đây:

“ … 9h25: Đối chất với lời khai của Hải, ông Hòa cho biết, Trưởng ban điều hành Lý Xuân Hải yêu cầu ông này thực hiện Nghị quyết HĐQT, tự quyết định lãi suất, hoa hồng, kỳ hạn…

Giải thích về quy trình gửi tiền, ông Hòa nói rằng, theo nhận thức, việc thực hiện quy trình tiền gửi là đúng.
Tuy nhiên, ngay sau đó, được HĐXX mời phát biểu về vấn đề này, đại diện NHNN cho rằng, quy trình đó ACB vi phạm một số điều khoản.

 8h40: HĐXX bắt đầu làm việc. Mở đầu đại diện Ngân hàng Nhà nước được HĐXX mời phát biểu.
Nói về Luật tổ chức tín dụng năm 2010, đại diện NHNN cho biết, luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Những văn bản trái với luật này thì phải dừng và không được thực thi.

“Theo quy định của luật tín dụng, nếu tổ chức nào ủy thác thì phải có hướng dẫn của ngân hàng. Thời điểm các bị cáo phạm tội chưa có hướng dẫn, chưa có quy định việc ủy thác”, đại diện NHNN nói.
Đối với việc Ngân hàng ACB ủy thác cho 19 nhân viên, đại diện NHNN cho biết, chưa phù hợp với điều 106, Luật tổ chức tín dụng năm 2010”.

(Nguồn trích dẫn: “Ngày thứ 4 xét xử vụ án “bầu” Kiên và đồng phạm”, bài báo của phóng viên Việt Đức, Cập nhật lúc: Thứ 6, 16:42, 23/05/2014 trên vov.vn).

Từ ý kiến trích dẫn vừa nêu cho chúng ta thấy, vị đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã không am hiểu cặn kẽ qui định chuyển tiếp của pháp luật nói chung và Luật các tổ chức tín dụng 1997 và 2010 nói riêng. Không còn lựa chọn nào khác ngoài việc dựa vào ý kiến phát biểu trái với nguyên lý pháp luật của vị đại diện Ngân hàng Nhà nước – Là nguyên nhân chính yếu, dẫn đến việc các cơ quan tố tụng hình sự nói chung và HĐXX nói riêng đã thực hiện phán quyết mà trong đó chứa đựng nội dung hồi tố trái pháp luật, gây oan sai và tù tội cho các bị cáo.

Qui định chuyển tiếp tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 như sau:

“Điều 161. Quy định chuyển tiếp

  1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng đã thành lập và hoạt động theo Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải xin cấp lại Giấy phép theo quy định của Luật này. -> 2. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã thành lập và hoạt động theo Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải hoàn tất việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này. -> 3. … -> 4. Đối với các hợp đồng cấp tín dụng được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký kết cho đến hết thời hạn của hợp đồng cấp tín dụng. Việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng cấp tín dụng nói trên chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung phù hợp với các quy định của Luật này. ->  5,6,7. …”

Như vậy, Luật các tổ chức tín dụng 2010 không qui định cụ thể cho việc chuyển tiếp trong lĩnh vực huy động vốn, cung ứng vốn (hợp đồng ủy thác tiền gửi, hợp đồng gửi tiền tiết kiệm, …). Điều này chứng tỏ những người làm luật và thông qua luật các tổ chức tín dụng 2010 chưa bao quát hết các tồn tại của Luật các tổ chức tín dụng cũ, đã chứng minh phong cách làm việc qua loa đại khái của họ.

Tuy nhiên, trên thực tế các khoản tiền gửi tiết kiệm cũng mặc nhiên tuân theo qui định chuyển tiếp như các hợp đồng tín dụng mà không bị hồi tố. Cho nên, các hợp đồng ủy thác tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng ACB cho các nhân viên ACB cũng phải được pháp luật bảo vệ theo nguyên tắc bất hồi tố và chuyển tiếp.

Mặt khác, khoản 1 điều 161 lại mâu thuẫn với khoản 2 điều 90 của cùng Luật các tổ chức tín dụng 2010. Khoản 1 điều 161 quy định: “1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng đã thành lập và hoạt động theo Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải xin cấp lại Giấy phép theo quy định của Luật này”.

Thì khoản 2 điều 90 lại quy định: “2. Tổ chức tín dụng không được tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác ghi trong Giấy phép được Ngân hàng Nhà nước cấp cho tổ chức tín dụng”.

Vậy là, theo quy định chuyển tiếp tại khoản 1 điều 161 Luật các tổ chức tín dụng 2010, ngân hàng ACB vẫn được phép sử dụng giấp phép cũ, mà giấy phép cũ thì theo Luật các tổ chức tín dụng 1997 không cấm hoạt động ủy thác tiền gửi. Theo nguyên lý doanh nghiệp hoạt động liên tục, thì ACB vẫn được quyền tiến hành ủy thác tiền gửi kéo dài cho đến khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành hướng dẫn mới theo quy định tại điều 106 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 – Cụ thể, thời hạn được phép kéo dài đến ngày ngày 08/03/2012, khi Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư 04/2012/TT-NHNN. Trong khi đó, Huyền Như bị bắt trước năm 2012 đã chứng minh ACB ủy thác tiền gửi trước ngày 08/03/2012, thì hoàn toàn không vi phạm pháp luật.

Chính vì Luật các tổ chức tín dụng 2010 được ban hành còn qua loa đại khái, sai trầm trọng về mặt ngữ pháp, rắc rối, có mâu thuẫn, thiếu tính nhất quán. Nên mục đích tăng quyền hạn quản lý chặt chẽ cho Ngân hàng Nhà nước, lại bị biến tướng thành tình thế khống chế và bắt bí doanh nghiệp. Cho nên, các cơ quan tố tụng hình sự thì cứ bắt bí ngân hàng ACB là trong giấy phép kinh doanh có đăng ký nội dung ủy thác tiền gửi không – Nhưng mà, Luật các tổ chức tín dụng 2010 lại cho ACB sử dụng giấy phép cũ. Còn Ngân hàng Nhà nước thì không hướng dẫn, thì làm sao ngân hàng ACB trả lời được – Vì, việc hướng dẫn này không phải muốn là được, do nó phải đồng hành với quá trình xử lý mâu thuẫn của chính Luật các tổ chức tín dụng 2010.

Truy tiếp tục, chúng ta thử tìm hiểu xem, nếu ngân hàng Nhà nước không hướng dẫn nghiệp vụ ủy thác tiền gửi tiết kiệm, trong khi điều 72 của Luật các tổ chức tín dụng (1997) chỉ nói chung chung, thì hoạt động này của ACB sẽ phải dựa vào qui định cụ thể của luật nào nữa?

Rõ ràng là cả hai Luật các tổ chức tín dụng (1997) và (2010) không định nghĩa thế nào là “ủy thác, nhận ủy thác”. Trong khi đó, quyết định 742/2002 của ngân hàng Nhà nước chỉ định nghĩa “nghiệp vụ ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn”. Kể từ đó, mãi cho đến 10 năm sau, bằng thông tư 04/2012 ngân hàng Nhà nước mới bổ sung thêm được một định nghĩa nữa là “Ủy thác và nhận ủy thác thực hiện nghiệp vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan”. Nhưng đó cũng chỉ mới là định nghĩa về nghiệp vụ, chứ chưa phải là định nghĩa khái quát nhất về hoạt động ủy thác, nhận ủy thác.

Xác định rằng, các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế thường được điều chỉnh bởi Luật chuyên ngành, Luật hành chính, hoặc Luật dân sự. Tìm đến Luật dân sự 2005, chúng ta thấy hợp đồng ủy thác gửi tiền tiết kiệm của ACB nó thuộc vào:

“Mục 12. Hợp đồng ủy quyền

Điều 581. Hợp đồng ủy quyền: Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Trong mục 12 của Bộ luật dân sự từ điều 581 đến điều 589 còn qui định về quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền và bên được ủy quyền rất cụ thể và chặt chẽ.

Giải quyết hậu quả vụ úy thác tiền gửi của ACB:

– Theo quy định của pháp luật (đã trình bày ở các phần trên), thì Vietinbank phải hoàn trả lại tiền gửi cho các nhân viên ACB (cả vốn gốc và tiền lãi).

– Theo quy định tại mục 12 của Bộ luật dân sự 2005, thì các nhân viên ACB phải giao trả lại tài sản tiền gửi đã nhận ủy thác cho ngân hàng ACB.

Đến đây chúng ta thấy, ngoài qui định của Luật kế toán 2003, thì Bộ luật dân sự cũng cho thấy trách nhiệm của ông Nguyễn Văn Hòa kế toán trưởng ngân hàng ACB trong vụ ủy thác tiền gửi tiết kiệm là rất lớn. Thế nhưng mà, có dấu hiệu làm án theo kịch bản, có dấu hiệu cán bộ điều tra, công tố viên, thẩm phán không am hiểu cặn kẽ pháp luật, dẫn đến không kiến nghị xử lý ông Nguyễn Văn Hòa kế toán trưởng ngân hàng ACB, dù chỉ là xử lý kỷ luật hành chính, hay đơn giản hơn là chỉ rõ nguyên nhân để rút kinh nghiệm cho ngân hàng ACB nói riêng hoặc cho hệ thống ngân hàng nói chung.

Điều đáng buồn thay, là pháp luật Việt Nam khó hiểu đến mức nào đã khiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói chung và HĐXX nói riêng (trong vụ án huyền Như và vụ án Nguyễn Đức Kiên) đã không hội đủ kiến thức để định đoạt vụ án – Họ, phải dựa vào các công văn (ý kiến) của Ngân hàng Nhà nước (không phải là giám định kỹ thuật – chuyên môn, hay giám định tư pháp độc lập) để buộc tội các bị can, bị cáo – chứ họ không thể dựa hẳn vào các điều khoản và nguyên lý của pháp luật một cách nhuần nhuyễn và minh bạch:

Trích dẫn của dantri.com.vn:

“(Dân trí) – Trong phiên xét xử mới đây, trước HĐXX, đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đã chỉ ra “đường vòng tội lỗi” ở ACB. …

… “Tôi khẳng định, có đủ căn cứ pháp luật để xác định hành vi của các bị cáo là Cố ý làm trái. Công văn 350 chỉ là một căn cứ, còn nhiều căn cứ pháp lý khác bổ trợ, bổ sung để khẳng định các bị cáo vi phạm pháp luật”, lời của VKS]”.

(Nguồn trích dẫn: Viện kiểm sát chỉ rõ “đường vòng tội lỗi” của bầu Kiên, bài báo của phóng viên Lê Tú, cập nhật hôm chủ nhật, 01/06/2014 – 06:49; đăng trên dantri.com.vn).

Trích dẫn của vov.vn:

“VOV.VN – Hôm nay (28/5), các luật sư tiếp tục tham gia tranh luận để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bị cáo tại tòa. …

15h15: Tại tòa, đại diện NHNN, ông Đặng Văn Thảo dựa vào Công văn 350 để nói rằng các bị cáo thực hiện ủy thác trái với luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Cơ quan điều tra và VKS đã dựa vào Công văn 350 làm căn cứ kết tội bị cáo. …

Luật sư Hùng cũng cho rằng, việc dựa vào Công văn 350 để kết tội Kiên thể hiện sự lúng túng của cơ quan công tố vì không biết ACB vi phạm quy định nào trong pháp luật. Ông Hùng đề nghị, NHNN cần có văn bản trả lời rõ vấn đề này”.

(Nguồn trích dẫn: “Tạm đình chỉ vụ án với ông Giá làm hạn chế tham gia tố tụng”, bài báo của phóng viên Việt Đức, cập nhật lúc: Thứ 4, 16:00, 28/05/2014; đăng trên vov.vn)

Cũng trớ trêu thay, các dự thảo Luật các tổ chức tín dụng do Ngân Hàng Nhà nước (NHNN) soạn thảo và chấp bút và hoàn thiện – còn khá nhiều bất cập và sai sót. Rồi lại chính Ngân hàng Nhà nước được các cơ quan tư pháp giao cho quyền đưa ra ý kiến định đoạt việc chấp hành Luật các tổ chức tín dụng để phạt tù những kẻ khác – Thế rồi, họ (NHNN) lại có điều kiện che dấu, bưng bít, biện hộ cho sự yếu kém đầy khuyết tật của NHNN trong công tác soạn thảo và chấp bút Luật các tổ chức tín dụng, trong công tác quản lý chuyên ngành của NHNN. Bóng dáng của Trọng tài kinh tế, bóng dáng của vị Quan tòa anh minh đâu rồi, mà lại để mang dấu ấn của “người soạn thảo dự luật và chấp bút Luật” qui kết “người có dấu hiệu vi phạm Luật” do chính NHNN chấp bút?

C.III. VIỆC HUYỀN NHƯ THAM GIA HUY ĐỘNG VỐN CHO VIETINBANK, LÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

Huy động vốn, thực chất là chính sách về lãi suất tiền gửi, quảng cáo, chiêu thị cổ động, khuyến mại, nâng cao chất lượng dịch vụ (kể cả dịch vụ tận nhà cho khách hàng), nhằm giúp ngân hàng đạt được mục tiêu nhận tiền gửi của khách hàng, để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh tín dụng, thanh toán và bảo đảm tính thanh khoản tiền mặt của ngân hàng. Đây là một hoạt động chính yếu của ngân hàng, được qui định trong Luật các tổ chức tín dụng (1997 và 2010).

Ở những giai đoạn cao điểm, mỗi ngân hàng thường có một ban tham mưu về huy động vốn do một Phó tổng giám đốc đứng đầu. Không riêng gì người có chức vụ đứng đầu một đơn vị kinh doanh của ngân hàng là Huyền Như, mà từ Tổng giám đốc trở xuống đến nhân viên ngân hàng, mọi người đều bị cuốn hút vào các chiến dịch huy động vốn của ngân hàng. Càng là nhân viên ngân hàng làm việc ở bất cứ bộ phận nào có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với khách hàng, thì họ phải chào mời, tư vấn, giới thiệu, quảng cáo, … có như vậy, thì ngân hàng mới cạnh tranh mà tồn tại được. Không chỉ đơn giản như vậy, mà hoạt động huy động vốn còn lên tới đỉnh điểm với áp lực rất cao, đó là việc ngân hàng giao chỉ tiêu huy động vốn cho các chi nhánh, phòng giao dịch rất nặng nề; có khi, chỉ tiêu huy động vốn được giao tính theo từng đầu người gây áp lực rất căng thẳng. Ví dụ: một phòng giao dịch có 8 người, giả sử chỉ tiêu giao vốn huy động 50 tỷ đồng/người/năm – Thì trong một năm, phòng giao dịch đó phải huy động được 400 tỷ đồng để hoàn thành chỉ tiêu. Nếu không hoàn thành được chỉ tiêu huy động vốn theo tiến độ, thì có khi người xếp của đơn vị này phải khăn gói ra đi, để nhường chỗ cho người khác thi thố tài năng, …

Đã kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, thì việc chào mời, tư vấn, quảng cáo, chiêu thị cổ động, nâng cao chất lượng dịch vụ (kể cả dịch vụ tận nhà cho khách hàng), … Thì, không nhất thiết bắt buộc tất cả đều phải diễn ra tại trụ sở làm việc của ngân hàng. Vì hoạt động tiếp thị là phải làm cho nó lan tỏa ra bên ngoài càng nhiều càng tốt, làm cho nhiều người biết được chính sách huy động tiền gửi của ngân hàng càng nhiều càng tốt, dịch vụ cho người gửi tiền đến tận nhà càng tốt (dịch vụ lưu động) – Tuy nhiên, quá trình này phải bảo đảm tuân thủ đúng qui trình của từng khâu vận hành (theo qui định và nghiệp vụ của ngân hàng). Người đứng đầu một đơn vị kinh doanh cơ sở của Ngân hàng là người tổ chức (chỉ huy) việc chấp hành qui định và nghiệp vụ ngân hàng.

Huyền Như là người đứng đầu một đơn vị kinh doanh của ngân hàng Vietinbank, nên cô ta cũng phải chịu áp lực hoàn thành chỉ tiêu huy động vốn là lẽ đương nhiên. Như đã dẫn chứng và phân tích tại mục “[B.II.1. Địa vị pháp lý của “phòng giao dịch”, và vai trò của Huyền Như]” ở phần đầu bài viết này, chúng tôi xin nhắc lại như sau:

Từ dẫn chứng, phân tích địa vị pháp lý của “phòng giao dịch” thuộc chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần nêu trên, chúng ta nhận thấy: các phòng giao dịch của Vietinbank nói chung, hay phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc chi nhánh Vietinbank TP.HCM nói riêng – đối với chức năng và nhiệm vụ được giao, chúng có thể có thẩm quyền như Vietinbank và chi nhánh Vietinbank của chúng.

Đồng thời, đối với các trưởng phòng giao dịch của Vietinbank nói chung, hay quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ thuộc chi nhánh Vietinbank TP.HCM nói riêng (cụ thể là Huyền Như), thì đối với chức năng và nhiệm vụ được giao, họ cũng có thể có thầm quyền như đối với Tổng giám đốc Vietinbank, Giám đốc chi nhánh của Vietinbank trong vai trò là người “đại diện theo ủy quyền”.

Trong việc tham gia huy động vốn của Huyền Như xảy ra ba vấn đề:

Thứ nhất, có hai cổng để kiểm tra giám sát tài khoản tiền gửi ngân hàng, cổng thứ nhất là “khách hàng” – cổng này là “cổng phụ” (pháp luật thừa nhận chứ không bắt buộc). Cổng thứ hai là “ngân hàng Vietinbank” – cổng này là “cổng chính”, có tính chất quyết định (pháp luật thừa nhận và bắt buộc – Luật kế toán 2003). Cho dù “cổng phụ” không hoạt động hoặc là họ đặt niềm tin vào ngân hàng, thì “cổng chính” vẫn có đầy đủ chức năng theo luật định để bảo vệ tài sản (Luật kế toán 2003).

Đối với “cổng phụ”, Huyền Như dùng tiền túi của mình để trả tiền lãi suất ngoài hợp đồng, nhằm mục đích làm cho khách hàng bị “mê hoặc”, dẫn đến suy giảm sự kiểm tra, giám sát, đối chiếu tài sản tiền gửi của mình. Trong “cổng phụ” này, ông Nguyễn Văn Hòa kế toán trưởng ngân hàng ACB là người trực tiếp chỉ huy việc ủy thác tiền gửi cho nhân viên phải là người tỉnh táo nhất, chịu trách nhiệm chính yếu lại được cơ quan tố tụng hình sự cho qua không bị truy cứu trách nhiệm. Giả sử ông Nguyễn Văn Hòa do thành khẩn khai báo, hợp tác tốt với cơ quan điều tra thì cũng phải trao cho HĐXX được quyền tuyên bố đối với trách nhiệm của ông Nguyễn Văn Hòa (đây là một sơ hở của hệ thống pháp luật nói chung của Việt Nam, đặc biệt trong đó là Luật tố tụng hình sự và việc chấp hành Luật tố tụng hình sự).

Đối với “cổng chính”, Huyền Như vừa huy động vốn vào đơn vị do cô ta phụ trách, vừa huy động vốn vào chi nhánh Vietinbank TP. HCM (kể cả khả năng huy động vốn vào phòng giao dịch hoặc chi nhánh khác của Vietinbank) không thuộc thẩm quyền quản lý của cô ta. Với chiến thuật “chia lửa” đầy hào hiệp như vậy, Huyền Như được đánh giá là một người vượt trội trong hệ thống Vietinbank. Cô ta ghi điểm “hình ảnh đẹp” trong sự ngỡ ngàng của đồng nghiệp, các nhân viên ngân hàng – và cô ta ra tay hành động – Đây, chính là bối cảnh làm cho hệ thống bảo vệ “cổng chính” của Vietinbank sụp đổ.

Thứ hai, phần tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng Vietinbank để hưởng theo lãi suất trong hợp đồng (lãi suất tiền gửi niêm yết công khai), thì dòng tiền này được luân chuyển theo đúng pháp luật dưới sự quản lý trực tiếp của ngân hàng Vietinbank.

Chúng ta thấy là, tiền gửi ngân hàng chịu sự giám sát của khách hàng và ngân hàng, trong đó trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài sản tiền gửi chủ yếu thuộc quyền hạn của ngân hàng (trách nhiệm theo Luật kế toán 2003). Cũng vì ngân hàng, là chủ thể quản lý tiền gửi dưới dạng là một tài sản đặc biệt của ngân hàng. Và theo điều 101 của Luật các tổ chức tín dụng (1997), ngân hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng cho khách hàng. Đồng thời, theo điều 13 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) cũng tiếp tục qui định ngân hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản cho khách hàng theo thỏa thuận. Điều này, khác với lời khai một chiều, mà Huyền Như đã dẫn dắt các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đi dạo chơi.

Những dẫn chứng có tính pháp lý này, cho chúng ta thấy: Pháp luật, qui định ngân hàng là chủ thể chính, để quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi ngân hàng. Thế mà, điều đáng buồn thay, hàng loạt các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán lại nghe theo sự dẫn dắt của Huyền Như để qui kết cho các khách hàng phải có trách nhiệm quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi ngân hàng. Nếu Ngân hàng không cung cấp thông tin, thì làm sao khách hàng biết được sự biến động trên số dư tài khoản của mình được, nếu ngân hàng không “báo nợ, báo có” thì khách hàng là doanh nghiệp làm sao biết được tiền trên tài khoản của mình tăng lên hay giảm đi để hạch toán?

Giả sử, khách hàng cá nhân mở tài khoản internet bank hoặc đăng ký nhận kết quả giao dịch bằng tin nhắn SMS qua điện thoại – Nếu xảy ra sự cố mạng, lỗi hệ thống mạng hoặc bị vô hiệu do lỗi cố ý của nhân viên ngân hàng thì sao? Đối chiếu lại, điều 13 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) qui định ngân hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản tiền gửi cho khách hàng theo thỏa thuận. Như vậy, khách hàng cá nhân còn có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp bản sao kê chi tiết sự biến động của tài khoản tiền gửi – Kể cả, việc khách hàng không đăng ký, không yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản – Vì, luật không bắt buộc khách hàng cá nhân phải đăng ký nhận thông tin về giao dịch trên tài khoản tiền gửi, như là hình thức pháp lý ràng buộc trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi đối với khách hàng cá nhân – Cũng vì, làm như vậy là sai so với chế độ hạch toán kế toán theo quy định của Luật kế toán 2003.

Ở đây, nói cho đúng hơn, là khách hàng có quyền nhận thông tin về dữ liệu giao dịch do ngân hàng cung cấp (phiếu thu, phiếu chi, …), yêu cầu ngân hàng giải thích về số liệu giao dịch chưa rõ, đối chiếu giao dịch trên tài khoản với ngân hàng khi có nhu cầu. Ngân hàng có thể làm dịch vụ kế toán cho khách hàng có nhu cầu – có thu phí hoặc không thu phí theo thỏa thuận.

Chúng tôi quan sát thấy vị Đại diện Pháp lý cho ngân hàng Vietinbank tại phiên tòa sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên, đã có nhiều phát ngôn thiếu kiến thức căn bản về nghiệp vụ chuyên môn, đôi khi vị này chỉ “nói sảng” lên giống như người có dấu hiệu bệnh tâm thần.

Như vậy, trong hoạt động tham gia huy động vốn của Huyền Như thì có hai luồng tiền:

– Luồng tiền túi của Huyền Như trả lãi xuất ngoài hợp đồng với dụng ý làm “mê hoặc” khách hàng. Việc trả lãi xuất thêm ngoài lãi suất niêm yết chính thức của Vietinbank, thì Vietinbank không biết, nên Vietinbank không vi phạm qui định của ngân hàng Nhà nước trong vụ việc trả lãi xuất ngoài hợp đồng này.

– Luồng tiền gửi vào Vietinbank để hưởng mức lãi xuất niêm yết chính thức của Vietinbank là luồng tiền hợp pháp và hợp lệ không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Vietinbank có đầy đủ trách nhiệm pháp lý về quyền và nghĩa vụ đối với luồng tiền này như: quyền và trách nhiệm quản lý tài sản, nghĩa vụ cung cấp thông tin giao dịch và số dư tài khoản, nghĩa vụ hoàn trả lãi và vốn gốc cho khách hàng.

Cho dù Huyền Như có tài bay sang Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ mà huy động được nguồn vốn hợp pháp, để đáp ứng cho nhu cầu của ngân hàng Vietinbank với mức lãi suất huy động hợp lý (theo mức lãi xuất niêm yết chính thức của Vietinbank), thì điều đó không có gì là sai trái cả, huống hồ là Huyền Như hoạt động xúc tiến huy động vốn cho Vietinbank trên lãnh thổ Việt Nam, được Vietinbank hạch toán theo mức lãi suất niêm yết công khai.

Trong hai luồng tiền trên, luồng tiền sai thì sử lý cái sai theo mức độ của nó, còn luồng tiền đúng thì phải được pháp luật bảo hộ – chứ không thể gộp chung và đánh đồng với nhau, như trong cách xử lý mà các cơ quan tố tụng hình sự đã làm.

Cho dù khách hàng gửi tiền có kỳ hạn, mà sau đó khách hàng không đoái hoài gì tới, đến kỳ đáo hạn không đến rút tiền hoặc gửi kỳ hạn tiếp, thì ngân hàng cũng phải tự động gia hạn tiền gửi thêm kỳ hạn nữa cho khách hàng, hưởng mức lãi suất hiện hành tại thời điểm gia hạn. Chứ tiền không thể mất đi được, nếu có mất, thì chỉ mất theo dạng vô hình do đồng tiền mất giá vì lạm phát cao, bị phá giá tiền tệ. Đây là ý nghĩa lớn, và cũng là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng, vì vậy phải dùng Luật kế toán 2003, Luật tín dụng 1997 và 2010 để qui trách nhiệm đối với ngân hàng Vietinbank.

C.IV. LÀM RÕ HƠN TRÁCH NHIỆM CỦA VIETINBANK TRONG VỤ ÁN HUYỀN NHƯ.

Mặc dù, việc áp Bộ luật dân sự (2005) vào Luật các tổ chức tín dụng (1997 và 2010) của Việt Nam còn chưa chặt chẽ, chưa đầy đủ; nhưng ở góc nhìn từ Luật các tổ chức tín dụng soi lại Bộ luật dân sự (2005), thì thấy chính nó cũng còn có những hạn chế. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể chỉ ra được một số vấn đề liên quan đến vụ án như sau:

  1. Xem xét theo góc độ Luật các tổ chức tín dụng.

Điều 17 của Luật các tổ chức tín dụng (1997) qui định như sau:

“Điều 17. Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Tổ chức tín dụng có trách nhiệm: -> 1. …; -> 2. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; bảo đảm trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi của mọi khoản tiền gửi; -> 3. Bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng; từ chối việc điều tra, phong toả, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; -> 4. Thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi”.

Điều 10 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) qui định như sau:

“Điều 10. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây: -> 1. …; -> 2. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền, bảo đảm thanh toán đủ, đúng hạn gốc và lãi của các khoản tiền gửi; -> 3. Từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng; -> 4. Thông báo công khai lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các quyền, nghĩa vụ của khách hàng đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ đang cung ứng; -> 5. …”.

Bình luận:

Chúng ta thấy ngay rằng, qui định tại điều 17 của Luật các tổ chức tín dụng (1997), và điều 10 của Luật các tổ chức tín dụng (2010), Vietinbank phải tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; bảo đảm trả đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi của mọi khoản tiền gửi, …

Thế mà trong tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1), mọi người lại phải chứng kiến các cơ quan tố tụng hình sự có dấu hiệu làm theo sự dẫn dắt của Huyền Như và Vietinbank. Các cơ quan tố tụng hình sự cùng với Huyền Như và Vietinbank đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật, khi họ phủ nhận khoản 3 điều 17 của Luật các tổ chức tín dụng (1997): “3. Bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng; từ chối việc điều tra, phong toả, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”, và khoản 3 điều 10 của Luật các tổ chức tín dụng (2010): “3. Từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.

Chúng ta nhận thấy từ thực tế là, các sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB đã bị Huyền Như chiếm đoạt (mà họ không biết). Các nhân viên ACB không đứng ra bảo lãnh cho Huyền Như vay vốn tín dụng của Vietinbank – Thì, khi biết sự thật như vậy, theo qui định của pháp luật hiện hành, Vietinbank phải từ chối phong tỏa, cầm giữ sổ tiết kiệm của các nhân viên ACB – Thế mà, Vietinbank lại có hành vi tất toán tài khoản tiết kiệm trái pháp luật – hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật này của Vietinbank đã được các cơ quan tố tụng hình sự ém nhẹm, không truy cứu.

  1. Xem xét theo góc độ địa vị pháp lý:

Theo Bộ luật dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật các tổ chức tín dụng 1997, Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại). Thì ngân hàng Vietinbank có 3 cấp đại diện liên quan đến vụ án Huyền Như, đó là:

Cấp ngân hàng mẹ: Vietinbank (là pháp nhân – đại diện theo pháp luật). Đến Luật các tổ chức tín dụng 2010, còn qui định cụ thể đại diện theo pháp luật tại “Điều 12. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng”.

Cấp chi nhánh: Chi nhánh Vietinbank TP. HCM và một số chi nhánh có liên quan khác của Vietinbank (là các đơn vị phụ thuộc pháp nhân – đại diện theo uỷ quyền).

Cấp phòng giao dịch: Phòng giao dịch Điện Biên Phủ (thuộc chi nhánh Vietinbank TP. HCM) và một số phòng giao dịch có liên quan khác của Vietinbank ((là các đơn vị phụ thuộc chi nhánh – đại diện theo uỷ quyền).

Chú ý: Xem thêm chủ đề vừa nêu ở mục B. II. 1. Địa vị pháp lý của Phòng giao dịch và vai trò của Huyền Như.

Bộ luật dân sự 2005:

“Điều 93. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân.

  1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. -> 2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân. -> 3. Thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện”.

Điều 144. Phạm vi đại diện

  1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. -> 2. Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền. -> 3. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. -> 4. …; 5. …

Điều 146. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

  1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện. -> 2. …; -> 3. Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

Điều 618. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Điều 622. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra.

Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.

Bình luận:

Trong vụ ủy thác tiền gửi của ACB vào Vietinbank thì, luồng tiền túi Huyền Như bỏ ra để chi trả lãi xuất ngoài hợp đồng, thì Vietinbank không chịu trách nhiệm (căn cứ theo khoản 1, điều 146 của Luật dân sự 2005 nêu trên).

Tuy nhiên, luồng tiền do Huyền Như huy động vào Vietinbank hưởng mức lãi suất niêm yết công khai thì, Vietinbank phải chịu trách nhiệm dân sự từ hậu quả do Huyền Như gây ra (căn cứ theo khoản 1, điều 93; điều 618 và điều 622 của Luật dân sự 2005 nêu trên).

Xem xét điều 618 và điều 622 nêu trên, chúng ta thấy, Vietinbank phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhân viên của họ gây ra (như cán bộ tín dụng, kế toán viên, người làm công, …). Những người này, chỉ phải hoàn trả một khoản tiền cho Vietinbank theo qui định của pháp luật.

Luồng tiền mà các khách hàng gửi tiền vào Vietinbank cũng như vụ ủy thác tiền gửi của ACB vào Vietinbank để hưởng mức lãi suất niêm yết công khai của Vietinbank và nằm trong phạm vi người “đại diện theo uỷ quyền” của Vietinbank – thì họ và luồng tiền của họ không gây ra bất cứ thiệt hại nào cho Vietinbank. Cho nên căn cứ theo khoản 3 điều 146 Bộ luật dân sự 2005, họ không phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Huyền Như (cùng những người liên quan) đã gây ra cho Vietinbank.

Chúng tôi thấy, các cơ quan tố tụng hình sự sơ thẩm chưa vận dụng đúng đắn các qui định vừa nêu trên của pháp luật, vì vậy đề nghị các luật sư bào chữa cho các nhân viên phải bảo vệ thân chủ của mình theo đúng qui định của pháp luật về bồi thường thiệt hại. Đồng thời, cơ quan chức năng thực hiện giám đốc thẩm vụ án cần phải xem xét lại những nội dung vừa nêu trên.

“Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi.

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”.

Bình luận:

Xem xét điều 617 của Bộ luật dân sự 2005, và căn cứ vào Luật kế toán 2003, chúng ta có đủ cơ sở để xác định Vietinbank là“người” bị thiệt hại chính do Huyền Như gây ra (vì Huyền Như lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank). Nếu xác định Vietinbank cũng có lỗi, thì Huyền Như chỉ bồi thường phần thiệt hại tương ứng với lỗi của Huyền Như.

Việc xác định Vietinbank có lỗi cũng hết sức dễ dàng, đó là người “đại diện theo uỷ quyền” tại Phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng và những người có trách nhiệm khác, … có liên quan của Vietinbank đã không làm đúng chức trách của mình – Là nguyên nhân chính, giúp sức tích cực cho Huyền Như lừa đảo lấy tiền vốn tín dụng của Vietinbank.

  1. Xem xét theo góc độ áp dụng tương tự vụ án khác, xét xử ngày 25/11/2014 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (đã có hiệu lực pháp luật):

“[(Dân trí) – Lợi dụng lòng tin của nhiều người, Tùng đã “đặt bẫy” khi khách hàng gửi tiền ngân hàng để chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng.

Ngày 25/11, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên xét xử và tuyên phạt Vũ Thanh Tùng (32 tuổi, ở Long Biên, Hà Nội) tù chung thân về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Theo tài liệu của cơ quan điều tra, Vũ Thanh Tùng vốn giữ chức Phó trưởng Phòng khách hàng, kiêm Trưởng quỹ tiết kiệm Long Biên của một ngân hàng từ năm 2011.

Sau một thời gian làm việc, được một số khách hàng tín nhiệm nên nhờ Tùng làm thủ tục thu tiền, gửi tiền ngay tại nhà của khách hàng hoặc rút tiền ra khỏi ngân hàng mà không cần phải đến phòng giao dịch.

Mỗi khi có giao dịch phát sinh, những khách hàng thân thiết với Tùng chỉ việc ngồi nhà nhận thẻ tiết kiệm hoặc nhận tiền và ký vào các chứng từ để ngân hàng đưa vào hồ sơ… Sau một thời gian được ngân hàng cho áp dụng loại hình giao dịch này, Tùng thấy đây là kẽ hở rất lớn để chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng nên lập tức ra tay thực hiện.

Hành vi phạm tội của Tùng được xác định, Tùng lấy mẫu thẻ tiết kiệm của ngân hàng, sau đó mang ra cửa hàng photocopy ở gần nhà in ra hàng chục thẻ tiết kiệm giả. Khi khách hàng có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm, Tùng hướng dẫn và mở tài khoản cho họ, rồi đăng ký Ebanking (chuyển tiền tự động) nhưng không thông báo cho khách hàng biết.

Sau đó, Tùng yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản để xác lập số tiền họ gửi tiết kiệm. Sau cùng, Tùng in các thông tin cá nhân của khách hàng, số lượng tiền gửi, lãi suất và thời hạn gửi tiền lên thẻ tiết kiệm giả, rồi mang đến tận nhà giao cho họ. Ngay sau khi khách hàng chuyển tiền, Tùng nhanh chóng sử dụng dịch vụ Ebanking để chuyển tiền sang tài khoản cá nhân của mình để chiếm đoạt.

Bên cạnh đó, Tùng còn ký giả chữ ký của các kiểm soát viên, giao dịch viên, trưởng phòng kế toán, nhân viên kho quỹ trên thẻ tiết kiệm giả. Với khách hàng chuyển từ tiền tiết kiệm sang hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn thì Tùng ký giả chữ ký của vị Phó giám đốc chi nhánh của ngân hàng này.

Cơ quan điều tra xác định Tùng đã chiếm đoạt tổng cộng hơn 24,7 tỷ đồng của 10 khách hàng gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng này… Ngoài bị tuyên phạt mức án tù chung thân thì Vũ Thanh Tùng còn bị tuyên buộc phải bồi thường cho ngân hàng toàn bộ số tiền hơn 24,7 tỷ đồng vì ngân hàng này đã hoàn trả tiền cho các khách hàng bị Tùng lừa đảo]”.

(Nguồn trích dẫn: “Đặt bẫy” khách hàng gửi tiền ngân hàng, chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng; bài báo của phóng viên Lê Tú; cập nhật 26/11/2014 – 06:51; đăng trên dantri.com.vn/kinh-doanh/dat-bay-khach-hang-gui-tien-ngan-hang-chiem-doat-gan-25-ty-dong-999859.htm).

C.V. MỘT MÌNH HUYỀN NHƯ KHÔNG THỂ CHIẾM ĐOẠT TIỀN GỬI CỦA KHÁCH HÀNG NHIỀU LẦN ĐƯỢC.

Huyền Như hay bất cứ cá nhân nào cũng không thể tự một mình chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi ngân hàng nhiều lần bằng các thủ đoạn gian dối và ảnh hưởng từ chức quyền (trừ trường hợp đó là tin tặc có khả năng vượt qua được các hàng rào lập trình bảo vệ phần mềm kế toán hoặc lấy được tên đăng nhập và mật khẩu của tài khoản internet bank, hoặc bộ máy kế toán của ngân hàng bị mục ruỗng, thối từ bên trong).

Trường hợp Vũ Thanh Tùng, nguyên phó phòng khách hàng kiêm trưởng quỹ tiết kiệm Long Biên (của một ngân hàng nọ ở Hà Nội). Thông qua dịch vụ ngân hàng tại nhà cho khách hàng, anh ta đã tự ý kích hoạt tài khoản internet bank mà không báo cho khách hàng biết, để chiếm đoạt tiền của khách hàng – Thì ở đây, có lỗi của phần mềm kế toán tin học, đã để cho cán bộ quản lý xâm nhập được vào hệ thống tài khoản kế toán. Như vậy, hợp đồng giữa ngân hàng này và đơn vị dịch vụ lập trình tin học đã không chấp hành đúng qui định của Luật kế toán 2003, và Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính:“Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”.

Vậy Huyền Như có phải là một tin tặc không?

Toàn bộ hồ sơ vụ án cho thấy Huyền Như không có khả năng đó, và dấu vết từ hậu quả gây ra cũng không phải do tin tặc thực hiện. Đồng thời, các tài khoản của khách hàng mở tại Vietinbank bị Huyền Như rút (chuyển tiền) cũng không phải là tài khoản internet bank.

Trích dẫn từ laodong.com.vn:

“[Khi Hội đồng xét xử hỏi bị cáo Huyền Như: “Có ai biết là hồ sơ giả không?”, bị cáo Như đáp: “Có mình bị cáo biết giả thôi ạ”. HĐXX hỏi tiếp, đối với Công ty Hưng Yên, bị cáo khai hồ sơ mở tài khoản của Công ty Hưng Yên. Vậy có chữ ký thật, hoặc là bị cáo ký hoặc bị cáo Quyên ký với tư cách kiểm sát viên, hồ sơ mở tài khoản của Công ty Hưng Yên có hợp lệ không? Nếu hồ sơ thật, thì việc mở tài khoản của Hưng Yên là hợp lệ? 

Bị cáo Như cho rằng, mình làm hợp đồng gửi tiền giả đứng tên Vietinbank Nhà Bè, rồi fax ra cho chị Nga, phải tính lãi chênh lệch rồi nộp trước cho tài khoản Công ty Hưng Yên, sau đó chị Nga chuyển tiền vào tài khoản tại chi nhánh TP HCM.

HĐXX hỏi tiếp: “Vậy làm sao mà Công ty Hưng Yên mất tiền? Bị cáo làm lệnh chi giả, làm giả con dấu, ký giả chữ ký, bị cáo Như đáp. Lệnh chi này có được bộ phận nghiệp vụ của Vietinbank chấp nhận thực hiện không?” Bị cáo Như cho rằng vẫn chấp nhận vì không nhận ra lệnh chi giả.

… Vì Huyền Như cho rằng Tuấn biết sẽ không làm. Luật sư hỏi tiếp, vậy khi bị cáo chuyển hồ sơ, lúc chuyển về cho Tuyết Anh thì Tuyết Anh có biết không? Bị cáo Như cho rằng bị cáo mang về đưa cho Tuyết Anh, khi đưa cho Tuyết Anh, về lệnh chuyển tiền thì chữ ký là giả nhưng bị cáo Tuyết Anh không biết Huyền Như làm giả]”.

(Nguồn trích dẫn: Phúc thẩm “đại án” Huyền Như chiều 16.12: Giả chữ ký hồ sơ qua mặt kiểm sát viên, bài báo của phóng viên Phùng Bắc, cập nhật lúc 9:6 PM, 16/12/2014, đăng trên laodong.com.vn).

Trích dẫn từ laodong.com.vn:

“Bước sang ngày xét xử thứ ba (17.12), …

Bị cáo Huyền Như cho rằng, chính mình đã làm giả 14 hợp đồng, ký giả chữ ký của Hà Anh Tuấn (Giám đốc) và Võ Anh Tuấn (Phó Giám đốc Vietinbank chi nhánh Nhà Bè). Chưa hết, “siêu lừa” còn đóng dấu giả Vietinbank chi nhánh Nhà Bè để huy động 225 tỉ đồng của SBBS. Sau khi làm giả các hợp đồng, Huyền Như bắt đầu thực hiện làm lệnh chi giả, ký giả chữ ký của chủ tài khoản – bà Yeipheek Joo – Tổng giám đốc Cty SBBS và đóng dấu giả của Cty SBBS, rồi chiếm đoạt 210 tỉ đồng của SBBS. 

Tương tự như đã làm với SBBS, bị cáo Huyền Như cũng thừa nhận đã ký giả 5 hợp đồng uỷ thác đầu tư giữa Cty bảo hiểm Toàn Cầu với Vietinbank chi nhánh Nhà Bè, ký giả chữ ký của Hà Tuấn Anh (Giám đốc) và Võ Anh Tuấn (Phó giám đốc Vietinbank chi nhánh Nhà Bè) rồi yêu cầu Cty Toàn Cầu chuyển 125 tỉ đồng vào tài khoản của Cty. Huyền Như tiếp tục làm lệnh chi giả chiếm đoạt toàn bộ 125 tỉ đồng của Cty bảo hiểm Toàn Cầu.

… VKS hỏi bị cáo Phạm Thị Tuyết Anh, bị cáo Như khai: Bị cáo Như có giao hợp đồng ký với Cty Phương Đông cho bị cáo Tuyết Anh giữ, có đúng không? Bị cáo Tuyết Anh trả lời có biết. Tuy nhiên, khi trả lời về các lệnh rút tiền chiếm đoạt của bị cáo Như, bị cáo Tuyết Anh cho rằng mình không biết. Luật sư hỏi bị cáo Như, vì sao bị cáo bỏ ra vài trăm tỉ đồng chi cho các khách hàng với mức chi vượt lãi suất trần? Bị cáo Như cho rằng, đầu tư, chiêu dụ khách hàng sau đó mới chiếm đoạt tiền của họ. Vậy bị cáo chiếm đoạt tiền có tính toán từ trước? Bị cáo Như: “Dạ, thưa phải”.

Từ ngày 11.8.2011 – 12.9.2011, Cty Phương Đông – khi chưa ký hợp đồng – thì đã chuyển vào tài khoản thanh toán mở tại Vietbank chi nhánh TPHCM 1.190 tỉ đồng theo chỉ định của Như, từ đó bị cáo Như tự trích chuyển 380 tỉ đồng từ tài khoản thanh toán của Cty Phương Đông cho Cty Đức Minh Quang 100 tỉ đồng, Cty Thịnh Phát 150 tỉ đồng, Cty Phúc Vinh 130 tỉ đồng để Huyền Như trả nợ. 

Sau đó, để hợp thức hóa việc chuyển tiền của Cty Phương Đông – tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, Như đã đề nghị Vũ Hồng Hạnh – Tổng giám đốc Cty Phương Đông – ký 7 lệnh chi khống, hợp thức hóa lệnh chi cho Huyền Như… Đến nay, Như đã trả được 1.310 tỉ đồng, còn lại chiếm đoạt của Cty Phương Đông 380 tỉ đồng.

(Nguồn trích dẫn: Xét xử đại án Huyền Như: Lật tẩy thủ đoạn của “siêu lừa”, bài của phóng viên Phùng Bắc, cập nhật lúc 7:24 AM, 18/12/2014, đăng trên laodong.com.vn).

Bình luận:

Đối với các trường hợp, tài khoản của doanh nghiệp mở tại Vietinbank bị Huyền Như làm giả con dấu, làm giả lệnh chi, giả chữ ký của doanh nghiệp để rút tiền – Thì, bộ phận kế toán phòng giao dịch (hoặc chi nhánh) nơi mà Huyền Như rút tiền, phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự (xem trích dẫn và phân tích tại mục: “C.VI. Nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán và các cơ sở đương nhiên của pháp luật” (ở phần cuối bài viết này)).

Dù Huyền Như có làm giả chứng từ, giả con dấu, giả chữ ký của Công ty Hưng Yên, thì quy trình nghiệp vụ kế toán cũng đòi hỏi phải có người thật việc thật (người có trách nhiệm của Công ty Hưng Yên, và những người có trách nhiệm của Vietinbank) thì mới làm phát sinh nghiệp vụ kinh tế và chứng từ gốc. Vậy, trường hợp không có người của Công ty Hưng Yên mà Huyền Như vẫn rút (chuyển tiền) được – Thì, lỗi để xảy ra hậu quả hoàn toàn do bộ máy kế toán của Vietinbank (là chủ yếu) – còn việc Huyền Như làm giả chứng từ, con dấu và chữ ký chỉ là lỗi thứ yếu gây ra hậu quả.

Trong trường hợp làm dịch vụ kinh doanh tận nhà cho khách hàng, thì ngân hàng cũng phải khai triển các quy trình nghiệp vụ kế toán thích hợp để ứng dụng – Ở đây, chúng ta ngoại trừ trường hợp giao dịch qua điện thoại, qua internet thì cũng phải tuân theo quy trình riêng của từng loại dịch vụ này.

Dù cho, “Từ ngày 11.8.2011 – 12.9.2011, Cty Phương Đông – khi chưa ký hợp đồng – thì đã chuyển vào tài khoản thanh toán mở tại Vietbank chi nhánh TPHCM 1.190 tỉ đồng theo chỉ định của Như, …”. Thì, Vietinbank vẫn là pháp nhân chịu trách nhiệm quản lý số tiền này theo quy định của Luật kế toán 2003 (từ thời điểm tiền được hạch toán số phát sinh 1.190 tỉ đồng vào tài khoản) – Trách nhiệm quản lý tiền trên tài khoản này, nó không bị ràng buộc bởi việc đã ký (hay chưa ký) hợp đồng gửi tiền có kỳ hạn – Mà, nó có tính pháp lý ràng buộc trách nhiệm của Vietinbank từ (ngay) khi mở tài khoản thanh toán (còn gọi là TK tiền gửi không kỳ hạn) cho khách hàng, đối với bất cứ phát sinh nào trên tài khoản này.

Theo Luật dân sự, thì trách nhiệm dân sự do các nhân viên gây ra thiệt hại, thì Vietinbank phải gánh chịu hậu quả trước tiên, nhân viên chỉ bồi thường một phần theo qui định của pháp luật. Vì Huyền Như có lỗi, nhưng Vietinbank cũng có lỗi (do những người có trách nhiệm của họ gây ra).

“(VnMedia) – Tại phiên tòa xét xử Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm, “siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như đã tiết lộ về kẻ hở để bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của ngân hàng ACB 718 tỉ đồng.

… Theo lời khai của Huyền Như, lúc đó bị cáo chỉ báo lại với lãnh đạo là 1 số khách hàng muốn gửi 14% và có yêu cầu hoa hồng. Lãnh đạo chi nhánh đã không giải quyết hoa hồng đó. Tuy nhiên, Huyền Như vẫn vẫn đồng ý với chị Ngọc và đã trích trực tiếp hoa hồng từ tiền cá nhân của mình. Theo Huyền Như việc bỏ tiền túi ra là đã có mục đích chiếm đoạt số tiền này từ trước.

Cũng theo Huyền Như, theo quy chế của NHNN, khách hàng mở tài khoản phải đến trực tiếp ngân hàng làm thủ tục để nhân viên ngân hàng đối chiếu các thủ tục pháp lý, năng lực hành vi. Nhưng các khách hàng của chị Ngọc không thực hiện đúng quy trình đó mà chỉ cung cấp số CMND rồi ký hoàn tất bổ sung. “Đó chính là là sơ hở để tôi có thể trích chuyển tiền đi” – Huyền Như nói.

Ngoài ra, cũng theo Huyền Như cho biết, khi ký kết hợp đồng tiền gửi, bên chị Ngọc cũng không có bất cứ phản hồi nào mà cứ thế tiến hành. Hợp đồng tiền gửi có thể ký sau khi tiền về tài khoản và thủ tục mở tài khoản. Mặt khác, sau khi tiền về tài khoản, chủ tài khoản có quyền kiểm tra số dư và yêu cầu ngân hàng thực hiện các dịch vụ của mình. Nếu phát hiện tài khoản đã bị sử dụng sai mục đích thì khách hàng báo ngay ngân hàng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, tránh rủi ro. Nhưng khách hàng bên chị Ngọc không có động thái đó.

“Khi tiền về tôi tự động trích vào tiền gửi tiết kiệm. Chị Ngọc không quan tâm đến việc tôi trích tài khoản làm gì, chỉ quan tâm đến số tiền, lãi suất. Đó cũng là điều kiện để tôi có thể chiếm đoạt số tiền trôi chảy. Tôi đã lập sổ tiết kiệm rồi dùng sổ tiết kiệm đó để thế chấp vay và chuyển tiền. Có những sổ tiết kiệm do tôi tự tất toán và chuyển tiền đi thông qua chữ ký giả và hợp đồng giả” – lời của Huyền Như.

Tại phiên tòa, Huỳnh Thị Huyền Như tự nhận trách nhiệm về số tiền chiếm đoạt 718 tỷ đồng. Như cho rằng, việc chiếm đoạt số tiền của ACB là do ý thức chủ quan của Như và lãnh đạo Ngân hàng Vietinbank hoàn toàn không biết việc này.

(Nguồn trích dẫn: “Siêu lừa” Huyền Như nói về 718 tỉ chiếm đoạt của ACB, bài báo của phóng viên Khánh Công, Cập nhật lúc 06h04″ , ngày 24/05/2014 đăng trên vnmedia.vn).

Theo nội dung trích dẫn này, cho thấy Huyền Như đã tự khẳng định mình phạm vào tội tham ô tài sản khi tự ý trích chuyển tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, tự ý tất toán tài khoản tiền gửi tiết kiệm để chiếm đoạt tài sản đang do chính Vietinbank và Huyền Như chịu trách nhiệm quản lý. Vì vậy, Huyền Như sẽ bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản”.

Nội dung trích dẫn vừa nêu cũng cho thấy Huyền Như đã thực hiện kịch bản dẫn dắt các cơ quan tố tụng hình sự đi chơi quá xa – Tức là, Huyền Như dùng chiêu “hư hư thực thực” để “chiêu dụ” các cơ quan tố tụng hình sự. Huyền Như dùng sự thật trần trụi và hoang dại làm cho các cán bộ tố tụng hình sự tin vào sự thật trần trụi và hoang dại đó – Để lái sự chú ý theo kịch bản: Huyền Như nhận hết trách nhiệm hình sự và dân sự thay cho Vietinbank, “đổ” trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi thuộc trách nhiệm của ngân hàng Vietinbank và của Huyền Như (theo luật định), sang cho khách hàng phải “gánh chịu” một cách “trắng trợn”.

Câu hỏi 1:

Hậu quả chiếm đoạt tiền gửi đã xảy ra, nếu không tự một mình làm được (dù có hành vi gian dối, chức quyền), vậy Huyền Như cùng với những người nào tham gia chiếm đoạt tiền gửi, làm rõ các hoạt động này phải căn cứ vào cơ sở pháp luật nào?

Trả lời 1:

Như chúng tôi đã trình bày tại mục: “C.VI. Nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán và các cơ sở đương nhiên của pháp luật” (ở phần cuối bài viết này).

Thứ nhất, cơ sở của pháp luật ở đây là Luật kế toán 2003, và Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính:“Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”.

Theo “điều 48. Tổ chức bộ máy kế toán”, thì: ngân hàng phải tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc thuê làm kế toán; phải bố trí người làm kế toán trưởng. Trường hợp cơ quan, doanh nghiệp có đơn vị kế toán cấp trên và đơn vị kế toán cấp cơ sở thì tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật.

Luật có nội dung qui định như điều 48 này nhằm mục đích qui định trách nhiệm của ngân hàng trong quản lý, bảo quản, sử dụng tài sản của ngân hàng (trong đó có tài sản tiền gửi của khách hàng). Điều 48 cũng buộc ngân hàng phải xác lập qui trình nghiệp vụ theo từng nội dung kinh tế phát sinh bảo đảm tuân thủ đúng nguyên lý tài chính kế toán và các qui định cụ thể của pháp luật. Điều 48 cũng xác lập tính độc lập về nghiệp vụ kế toán thông qua cơ cấu và tổ chức của bộ máy kế toán, khiến cho người đứng đầu đơn vị không thể can thiệp trái pháp luật vào nghiệp vụ kế toán (tất nhiên là ngoại trừ hành vi vi phạm pháp luật của lãnh đạo sẽ bị xử lý hành chính, dân sự và hình sự).

Qui trình nghiệp vụ (rút, chuyển tiền) bảo đảm rằng, mỗi một nghiệp vụ kinh tế phát sinh nó phải được thực hiện và soát xét bởi sự có mặt trực tiếp của một nhóm người có trách nhiệm mà thông thường gồm: Trưởng phòng giao dịch, Kế toán viên kiểm soát, kế toán viên giao dịch, thủ quĩ, khách hàng. Trong đó, mỗi người chỉ được phép đảm trách một khâu của qui trình nghiệp vụ, nên một mình Huyền Như không thể qua mặt tất cả bọn họ được. Nếu giao dịch tài khoản thông qua hình thức internet bank hay điện thoại, thì cũng phải tuân thủ đúng theo quy trình của các loại hình dịch vụ này.

Vậy, nếu Vietinbank để cho Huyền Như rút, chuyển tiền trên tài khoản của khách hàng nhiều lần, thì bộ phận kế toán của Phòng giao dịch hoặc Chi nhánh đó (kế toán viên giao dịch, kế toán viên kiểm soát) phải chịu trách nhiệm là người giúp sức tích cực cho Huyền Như. Nếu phòng giao dịch không bố trí đủ kế toán viên giao dịch, kế toán viên kiểm soát thì Tổng giám đốc Vietinbank phải liên đới chịu trách nhiệm theo Luật kế toán 2003.

Điểm nhấn: Đến đây, chúng ta thấy các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) chưa truy cứu trách nhiệm của các kế toán viên, cán bộ quản trị có liên quan tại ngân hàng Vietinbank – Để, buộc họ phải chịu trách nhiệm chuyên môn (chuyên môn về kế toán và chuyên môn về quản trị) theo qui định của Luật kế toán 2003, chịu trách nhiệm dân sự theo Bộ luật dân sự 2005, và chịu trách nhiệm hình sự theo dấu hiệu phạm tội qui định tại “Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” của Bộ luật hình sự 1999, hoặc dấu hiệu của tội đồng lõa với Huyền Như theo điều 278 của Bộ luật hình sự 1999..

Điều 48 của Luật kế toán 2003 đã được Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định cụ thể tại khoản 8 của điều 2, và khoản 2 của điều 11 – Quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) là:

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

… 8. Phòng giao dịch là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh của ngân hàng thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách hàng. -> 9. …”

Điều 11. Mở, thay đổi tên và/hoặc địa điểm, chấm dứt hoạt động phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM

  1. …; 2. Ngân hàng thương mại được mở phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt sở giao dịch, chi nhánh khi có đủ các điều kiện sau: a) Có đủ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm chuyên môn đáp ứng yêu cầu hoạt động của phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm; -> b) Có đủ cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu an toàn trong giao dịch, kho quỹ (nếu có), điều chuyển tiền, phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và các quy định liên quan của pháp luật; -> c) Có quy định nội bộ bằng văn bản để quản lý phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, ATM đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật. -> 3. …”

Chúng tôi xin trích dẫn nội dung trình bày tại mục C.VI.1.3.3. Đặc điểm chung của tài khoản tiền gửi (ở phần cuối của bài viết này) để các bạn hiểu rõ hơn như sau:

Do đặc điểm chung của tài khoản tiền gửi này (TK tiền gửi không kỳ hạn và TK tiền gửi có kỳ hạn), nên nó ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với tất cả các kế toán viên có thẩm quyền truy cập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Nó cũng ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các cán bộ quản lý tham gia duyệt lệnh giao dịch trên tài khoản tiền gửi của khách hàng – Dù, họ công tác ở địa bàn nào, thì đều phải có trách nhiệm quản lý và bảo vệ tài sản trên tài khoản tiền gửi của khách hàng mà họ có thẩm quyền truy cập, xác lập và duyệt lệnh giao dịch, hoàn tất nghiệp vụ.

Vì vậy, dù là TK tiền gửi của khách hàng “AL” mở ở Chi nhánh Vietinbank Hà Nội (ví dụ), mà Huyền Như và các kế toán viên ở Chi nhánh Vietinbank TP HCM (ví dụ) nếu truy cập vào TK tiền gửi của khách hàng “AL” để chuyển tiền trái phép – thì họ sẽ bị xử lý hình sự về tội tham ô tài sản.

Câu hỏi 2:

Huyền Như là người có chức vụ, có quyền hành (quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ của Vietinbank, phó Phòng quản lý rủi ro Chi nhánh Vietinbank TP. HCM), nếu Huyền Như dùng quyền lực của mình ra lệnh cho nhân viên ngân hàng làm theo ý đồ của mình thì sao?

Trả lời 2:

Huyền Như là một trong số các lãnh đạo có chức vụ và quyền hạn cụ thể của ngân hàng Vietinbank. Tuy nhiên, Luật kế toán có những chốt chặn để ngăn ngừa hành vi lạm quyền. Như chúng tôi đã nói, thì qui trình nghiệp vụ là chốt chặn quan trọng nhất. Kế đến, thì nguyên lý tài chính kế toán cũng là một chốt chặn, ngân hàng chỉ được phép bố trí người có chuyên môn nghiệp vụ về tài chính kế toán trong bộ máy kế toán của ngân hàng, những người này đã được đào tạo bài bản nên nắm vững nguyên lý tài chính kế toán. Một thuật ngữ mà người ta thường nhắc nhau trong nghề kế toán là: “đầu đội nguyên tắc, tay sờ hóa đơn”.

Tại khoản 2 và khoản 3 điều 50 của Luật kế toán năm 2003 do Quốc Hội ban hành qui định như sau:

“2. Người làm kế toán có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán.

  1. Người làm kế toán có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán, thực hiện các công việc được phân công và chịu trách nhiệm về chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Khi thay đổi người làm kế toán, người làm kế toán cũ phải có trách nhiệm bàn giao công việc kế toán và tài liệu kế toán cho người làm kế toán mới. Người làm kế toán cũ phải chịu trách nhiệm về công việc kế toán trong thời gian mình làm kế toán”.

Đây là một chốt chặn quan trọng và cụ thể của pháp luật trong công tác tài chính kế toán. Kế toán viên có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ kế toán; đồng thời chịu trách nhiệm tuân thủ qui định của pháp luật về kế toán. Cho nên, khi Giám đốc hoặc Trưởng phòng giao dịch ra lệnh cho nhân viên làm không đúng với chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm tuân thủ pháp luật, thì kế toán viên có quyền từ chối, bảo lưu ý kiến của mình và báo cáo sự việc có liên quan đến người có thẩm quyền để theo dõi xử lý.

Trường hợp kế toán viên không từ chối, mà đồng lõa làm việc sai trái thì phải chịu trách nhiệm pháp lý trong vai trò là người đồng phạm với Huyền Như – họ sẽ bị xử lý theo “Điều 278. Tội tham ô tài sản”.

Trường hợp kế toán viên lơ là, thiếu trách nhiệm thì có thể bị xử lý theo dấu hiệu phạm tội qui định tại điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999:

“Điều 285. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 

  1. Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. -> 2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. ->3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Căn cứ vào điều 48, điều 50 của Luật kế toán, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính: “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”. Đây là các cơ sở pháp lý, để các chuyên gia tài chính kế toán phối hợp với các chuyên gia tin học thiết kế và lập trình phần mềm kế toán – Sao cho, nó chỉ chạy và làm được trên computer của các kế toán viên thuộc bộ phận kế toán của ngân hàng. Còn trên computer của Giám đốc hoặc Trưởng phòng giao dịch, nếu thông thoáng lắm thì chỉ cho chạy chương trình lên để tra cứu và xem thôi chứ không làm được; hoặc nếu cho làm thì chỉ làm được một công việc ở công đoạn phê duyệt của lãnh đạo trong qui trình nghiệp vụ kế toán thôi.

Chúng ta thấy là, khi vắng vẻ, một kế toán viên có thể ngồi lên chiếc ghế của Giám đốc hoặc Trưởng phòng giao dịch nhún vài cái cho xả stress cũng không đáng ngại. Nhưng ngược lại, một Giám đốc hoặc Trưởng phòng giao dịch tự ý ngồi vào ghế và bàn làm việc của kế toán viên là điều không được phép (lòng tự trọng nghề nghiệp là như vậy) – Vì, đây là nguyên tắc nghề nghiệp buộc phải tuân thủ theo điều 48 và điều 50 của Luật kế toán. Trong trường hợp, phòng kế toán được bố trí riêng biệt, thì hai vị này chỉ có thể đi quan sát ở bên ngoài, hoặc chỉ được vào phòng kế toán khi tham gia kiểm kê tài sản, kiểm quĩ tiền mặt, lúc bình thường muốn vào phòng kế toán thì phải có kế toán viên có thẩm quyền đi cùng. Trong trường hợp nơi làm việc của bộ phận kế toán được bố trí chung với nơi làm việc của Trưởng phòng giao dịch, thì Trưởng phòng giao dịch phải ngồi đúng vị trí mà không được tự ý ngồi vào vị trí làm việc của kế toán viên.

Đến đây chúng ta xác định là, nếu ngân hàng Vietinbank tổ chức bộ máy kế toán tuân thủ đúng theo điều 48 và điều 50 của Luật kế toán, thì một mình Huyền Như dù có thủ đoạn gian dối cỡ nào cũng không chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng được. Đồng thời, Huyền Như cũng không thể tự mình chuyển tiền để lập sổ tiết kiệm, hay tự mình rút tiền hoặc chuyển tiền trên tài khoản của khách hàng được. Hoặc, khi dùng sổ tiết kiệm (do chiếm đoạt mà có) qua mặt cán bộ tín dụng, để cầm cố vay tiền vốn tín dụng của Vietinbank – Thì, một mình Huyền Như cũng không thể chuyển tiền vay từ tài khoản trung gian (của người đứng tên vay vốn cho Huyền Như) đi được – Chú ý: ở đây, đã loại bỏ và xác định các tài khoản này không phải là tài khoản internet bank, và không giao dịch qua hình thức dịch vụ điện thoại.

Điểm nhấn:

Trong vụ án Huyền Như, các cơ quan tố tụng hoặc luật sư và báo chí gọi một số người liên quan là: “nhân viên giao dịch” của ngân hàng. Cách gọi như vậy là kiểu gọi rút gọn (chung chung, đại khái), nên có thể làm hiểu sai lệch trách nhiệm cá nhân của họ (vì một người làm lễ tân hoặc hợp đồng phụ việc theo mùa vụ, … cũng là nhân viên giao dịch với khách hàng).

Do đó, phải gọi đúng là: “kế toán viên giao dịch, kế toán viên kiểm soát, phụ trách kế toán” của Phòng giao dịch (hoặc chi nhánh) thuộc ngân hàng Vietinbank, vì họ là những người làm công việc kế toán, lập chứng từ kế toán, tham gia xác lập nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nhập dữ liệu để ghi sổ kế toán, cấp mã số tài khoản cho khách hàng, soát xét qui trình nghiệp vụ kế toán (theo chế độ kế toán đơn vị cấp trên hoặc cấp dưới, báo sổ, hoặc hình thức khác theo quy định).

Chính cách gọi rút gọn, dẫn đến hiểu sai nên điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư, phóng viên đã bỏ sót trách nhiệm của kế toán viên và qui trình nghiệp vụ kế toán gắn với pháp luật về kế toán. Từ đó, họ qui kết phần lớn trách nhiệm là do Huyền Như một mình thực hiện và góp phần nâng cấp Huyền Như lên thành “siêu lừa đảo”.

Kế toán ngân hàng thực hiện chế độ hạch toán kép, tức là một nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trên tài khoản này, thì đồng thời nó cũng phản ánh lên một tài khoản đối ứng khác với nó. Nếu điều tra viên nào nắm được nguyên lý này thì truy tìm dấu vết vụ việc vi phạm sẽ đơn giản mà không quá khó khăn. Nhưng không nắm được nguyên lý này, thì điều tra viên như bơi trong một rừng người mà khó biết làm sao tìm ra đúng sự thật, từ đó, hồ sơ vụ án sẽ chất chồng lên thành một hồ sơ án rất đồ sộ; đồng thời dễ dẫn đến việc thêm bớt, thêu dệt làm cho người khác cảm thấy vụ án rất đồ sộ, phức tạp nên thành tích của điều tra viên rất to.

Chúng tôi nêu một ví dụ để các bạn hình dung là: một khối tiền 10 tỷ đồng thì rất nhỏ so với một khối tiền 5.000 tỷ đồng. Nhưng khối tiền 10 tỷ đồng làm phát sinh ra khoảng 10.000 khoản chi nhỏ có liên quan đến nhiều tài khoản đối ứng khác, thì hồ sơ và khối lượng công việc kế toán phát sinh sẽ lớn hơn – so với khối tiền 5.000 tỷ đồng nhưng chỉ có khoảng 300 khoản chi phát sinh, mà chỉ liên quan đến vài tài khoản đối ứng. Ở đây, nghề kế toán có một câu nói rất nổi tiếng là: “con số kế toán, là con số biết nói”, nên nó cũng diễn tả để đánh giá chính xác mức độ phức tạp hay giản đơn của vụ việc. Ở ví dụ này, các bạn có thể thấy độ phức tạp hay không phức tạp là so sánh con số 10.000 nghiệp vụ với 300 nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chứ không phải là so sánh giữa con số 10 tỷ với 5000 tỷ đồng. Hoặc các bạn có thể thấy là, con số 1.000 tỷ dollar Mỹ, có khi người ta chỉ dùng một bút toán ghi sổ để quản lý nó, nên không có gì là phức tạp cả.

Đến đây, qui trình nghiệp vụ kế toán cho chúng ta biết rằng Huyền Như không thể giả mạo chữ ký của nhân viên của công ty (@) để qua mặt ngân hàng được – Hay nói cách khác là, Huyền Như có thể làm giả con dấu và mạo chữ ký của công ty @ được, nhưng hồ sơ làm giả đó sẽ bị qui trình nghiệp vụ và bộ máy kế toán ngân hàng phát giác ra ngay. Vì các nghiệp vụ kinh tế tài chính này đòi hỏi phải có người thật, việc thật, diễn ra theo những quy trình chặt chẽ, thì mới làm phát sinh giao dịch thành công (nghiệp vụ về chứng từ gốc). Nếu Ngân hàng sử dụng nghiệp vụ ủy thác, thì nó cũng chịu kiểm soát theo qui trình nghiệp vụ đặc thù của nó.

Câu hỏi 3:

Việc làm giả con dấu, và giả chữ ký của Huyền Như có phải là yếu tố trọng yếu của vụ án hay không?

Trả lời 3:

Trước tiên phải khẳng định rằng, việc làm giả con dấu, và giả chữ ký của Huyền Như không phải là yếu tố trọng yếu của vụ án – bởi các lý do sau đây.

Như chúng tôi đã từng nói, nếu các cán bộ tham gia phá án mà thiếu kiến thức căn bản về nghiệp vụ kinh tế tài chính, và nguyên lý áp dụng pháp luật, thì đều có khả năng bị một con người khá “thông minh” là Huyền Như dẫn dắt đi chơi.

Toàn bộ hồ sơ vụ án đã cho thấy, những người tham gia tố tụng đã có một lỗ hổng rất lớn trong việc áp dụng pháp luật, cụ thể là Luật kế toán năm 2003. Thiếu Luật kế toán, thì rất khó để bác bỏ lý lẽ của Huyền Như, không những thế mà còn bị Huyền Như dẫn “đi chơi”, thì đó là một sự thật xót xa như chúng ta đã thấy.

Mặc dù, cơ quan điều tra thuộc Bộ công an có quyền trưng dụng, trưng cầu các chuyên viên kinh tế, hành chính, dân sự tham gia thẩm tra, thẩm định, giám định một vài trong số các vụ việc của vụ án. Nhưng để kết nối các vụ việc trong một vụ án hình sự, hành chính, dân sự và kinh tế lại với nhau – Thì, cần phải nắm được tổng thể nghiệp vụ về kinh tế, hành chính, dân sự và hình sự, trong một khung cảnh của kinh tế thị trường và pháp luật khá mơ hồ của Việt Nam. Thế nhưng, các Điều tra viên phần lớn thiếu những thứ này, vì họ học quá chuyên sâu về nghiệp vụ hình sự và chủ nghĩa Marx – Lenin. Còn những người có những khả năng này (người tài) thì họ không thể cạnh tranh để phát triển được trong môi trường của chủ nghĩa Marx – Lenin. Hoặc khi đủ lông, đủ cánh thì họ thoát ly để đi tìm môi trường tự do, tự lập và thử vận mệnh đầy nhiệt huyết và sáng tạo mà họ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Trên bình diện chung, không áp dụng Luật kế toán 2003, thì các cơ quan tố tụng hình sự yếu thế. Cho nên, họ phải dùng một thứ gì đó để che dấu sự yếu thế của họ – Đây, là một phép màu khá phổ biến của các cơ quan tố tụng hình sự, và các cán bộ làm án.

Phép màu trong vụ án Huyền Như, là con dấu giả, chữ ký giả, Huyền Như gặp được nghệ nhân khắc dấu giả tại công viên 23/9, đến đây thì mất dấu vết?

Dù đã khắc được tới 8 con dấu giả liên quan đến nhiều sự việc ở nhiều thời điểm khác nhau và diễn ra trong một thời gian khá dài. Vậy mà mất dấu vết bằng kịch bản: Huyền Như gặp nghệ nhân khắc dấu ở công viên 23/9, Làm cho mọi người không thể không đặt nghi vấn phản pháo lại cơ quan điều tra được?

Đi xa hơn, khi luật sư đề nghị giám định chữ ký, thì cơ quan tố tụng bác bỏ, vì cho rằng Huyền Như đã thừa nhận làm giả hồ sơ đó rồi (tức là thừa nhận phạm tội rồi) thì cần gì phải giám định chữ ký nữa. Đúng là đòn “dẫn đi chơi” của Huyền Như đã thấm vào các cán bộ tố tụng hình sự một cách rất sâu sắc.

Như chúng tôi đã trình bày thì, Luật kế toán và qui trình nghiệp vụ kế toán cho phép ngân hàng, khách hàng và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra chữ ký, để nhận diện quyền, lợi ích hợp pháp, trách nhiệm của những người và tổ chức có liên quan (kể cả trong bộ máy kế toán và ngoài bộ máy kế toán của ngân hàng). Trong những trường hợp không rõ ràng, thì phải trưng cầu giám định chữ ký để đảm bảo tính trung thực của chứng cứ trong vụ án.

Đến đây, chúng tôi đã chứng minh cho các bạn thấy rồi đấy, thiếu Luật kế toán, nên cán bộ của các cơ quan tố tụng hình sự đã bị Huyền Như dùng “phép màu hồ sơ giả” dẫn đi chơi quá xá.

Nói ngược lại, cán bộ điều tra và Huyền Như có dấu hiệu che dấu sự thật, nên có dấu hiệu cùng đi chung một con đường là: “phép màu con dấu giả, chữ ký giả”. Một bên dùng để che dấu sự yếu kém về nghiệp vụ tố tụng hình sự, còn bên kia dùng để che dấu sự thật chiếm đoạt tiền vì không muốn kể cho người khác thấy rõ “chân tơ kẻ tóc” của mình. Cả hai khuynh hướng đó, đều có dấu hiệu dùng “phép màu con dấu giả, chữ ký giả” để cho vụ án được xuôi chiều, mát mặt nhau.

Chúng tôi khẳng định rằng, nếu bộ máy kế toán của Vietinbank hoạt động đúng theo Luật kế toán năm 2003, thì toàn bộ con dấu giả và chữ ký giả của một mình Huyền Như sẽ vô tác dụng (xem thêm ở các nội dung có liên quan khác – đã phân tích).

Câu hỏi 4:

Phương hướng giải quyết tiền và tài sản thu hồi của vụ án để sung công quỹ nhà nước có đúng không?

“HĐXX cũng tuyên sửa một phần án sơ thẩm về số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo thuộc nhóm tội Cho vay lãi nặng bởi các con số được nêu ra trong bản án sơ thẩm có nhiều mâu thuẫn. Theo đó, tòa buộc Nguyễn Thị Lành phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính hơn 9.000 tỷ đồng (sơ thẩm chỉ tuyên nộp 150 tỷ đồng), Nguyễn Thiên Lý phải nộp lại 1.296 tỷ đồng (sơ thẩm buộc nộp 414 tỷ), Đào Thị Tuyết Dung nộp 414 tỷ (sơ thẩm buộc nộp 174,7 tỷ), Hùng Mỹ Phương nộp hơn 200 tỷ (sơ thẩm 164 tỷ) và Phạm Văn Chí nộp 23 tỷ (sơ thẩm 570 triệu) sung công quỹ”.

(Nguồn trích dẫn: Tòa Tối cao: ‘Vietinbank phải có trách nhiệm về 1.000 tỷ Huyền Như chiếm đoạt’; Bài của phóng viên Hải Duyên – Phạm Duy đăng trên vnexpress.net; Thứ tư, 7/1/2015 | 09:02 GMT+7.

Nội dung tương tự, cũng được phóng viên Thanh Giang tường thuật, đăng trên infonet cùng ngày).

Trả lời 4:

Quan điểm nhất quán của pháp luật là phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, … Nguyên lý giải quyết hậu quả giao dịch dân sự theo các điều khoản của Bộ luật dân sự 2005 được trích dẫn ở các nội dung trên, là ưu tiên phục hồi về nguyên trạng ban đầu đối với tài sản hợp pháp, hợp lệ của “thể nhân” và “pháp nhân” là chủ yếu. Còn việc thu hồi tiền sai phạm sung công quỹ chỉ là thứ yếu trong vụ án này – Chỉ áp dụng, khi xác định tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị Lành (và các đương sự liên quan khác) có được, là do xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước – Hoặc, khi cá nhân và thể nhân bị xâm phạm, nay không còn tồn tại, không còn người thừa kế theo pháp luật.

Ví dụ: Tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) buộc Nguyễn Thị Lành phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính hơn 9.000 tỷ đồng. Nếu số tiền này có nguồn gốc do Huyền Như tham ô, lừa đảo lấy tiền của Vietinbank, để trả nợ tiền vay và tiền lãi cho Nguyễn Thị Lành – Mà, các khoản này của Vietinbank lại có nguồn gốc là tiền gửi của khách hàng, tiền vốn tín dụng của Vietinbank – thì Vietinbank phải hoàn trả tiền gửi cho khách hàng trước, sau đó thu hồi số tiền thu lợi bất chính hơn 9.000 tỷ đồng của Nguyễn Thị Lành để trả lại cho Vietinbank. Còn Huyền Như phải có trách nhiệm trả tiền vay (vốn gốc và lãi vay hợp lệ) cho Nguyễn Thị Lành từ nguồn tài sản hợp pháp, hợp lệ của Huyền Như.

Đồng thời, Luật phòng chống tham nhũng 2005 cũng quy định:

“Điều 70. Nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng

  1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.
  2. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.
  3. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.
  4. Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

Vậy, việc Tòa phúc thẩm vụ án Huyền Như (vòng 1) tuyên án xung công quỹ toàn bộ số tiền thu lợi bất chính theo trích dẫn nêu trên – Thì, nội dung này của bản án là không rõ ràng, và vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Riêng các khoản tiền, mà các bị cáo bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phạt theo luật định – do các bị cáo vi phạm pháp luật – Thì những khoản tiền phạt này (nếu phạt đúng), thì xung công quỹ Nhà nước là việc không phải bàn nữa (trừ trường hợp phạt sai).

C.VI. NGUYÊN LÝ VỀ NGHIỆP VỤ TÀI CHÍNH KẾ TOÁN, VÀ NHỮNG CƠ SỞ ĐƯƠNG NHIÊN CỦA LUẬT PHÁP.

Để giải đáp, tra cứu cho câu hỏi rằng: Huyền Như chiếm đoạt tiền từ ACB hay từ Vietinbank, và Nguyễn Đức Kiên cũng như các cựu lãnh đạo ACB có vi phạm pháp luật hay không (nếu có thì mức độ như thế nào), … Chúng tôi trình bày nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán và những cơ sở đương nhiên của luật pháp trong mối liên hệ giữa vụ án Huyền Như và vụ án bầu Kiên. Cách thức trình bày của chúng tôi là “ngẫu hứng”, nhằm có thể phục vụ cho cả những bạn đọc chưa từng biết đến nguyên lý tài chính kế toán cũng có thể hiểu sơ lược được vấn đề, trang bị kiến thức sơ bộ để bạn đọc có thể đánh giá được việc làm đúng hoặc sai của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Nếu không nắm vững nguyên lý về nghiệp vụ tài chính kế toán và những cơ sở đương nhiên của pháp luật – thì sẽ khiến cho Luật sư, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, không những suy luận sai (còn gọi là mất kiến thức căn bản) – mà còn bị một số bị can, bị cáo, đương sự, người hoặc tổ chức có liên quan đến vụ án dẫn dắt đi theo kịch bản riêng của họ.

  1. NGUYÊN LÝ VỀ NGHIỆP VỤ TÀI KHOẢN TIỀN GỬI NGÂN HÀNG.

1.1. Nguyên lý két sắt kho bạc.

Các bạn thấy là, ở Việt Nam, tại mỗi điểm giao dịch người ta muốn mở hoặc đóng một két sắt Kho bạc ở đầu ngày và cuối ngày làm việc thì phải có đầy đủ 3 người mới hoàn tất được công việc đó. Những người đó gồm: Giám đốc, kế toán trưởng và thủ quĩ kho bạc. Nó theo một nguyên lý “hình tượng” là mỗi người trong bọn họ có một chìa khóa riêng (còn có thể hiểu thêm là chìa khóa trách nhiệm, là chữ ký xác định trách nhiệm pháp lý của mỗi người đó) để mở cùng một két sắt Kho bạc; và phải đủ 3 chìa khóa đó đều đã được đút vào thì cách cửa két sắt Kho bạc mới mở ra hay khóa lại được.

Nếu thiếu bất kỳ một người nào trong bọn họ thì két sắt Kho bạc không thể khóa lại hay mở ra được (tất nhiên là vẫn mở ra được, nhưng như thế có thể bị qui kết vào hành vi bất hợp pháp, và chịu hậu quả trách nhiệm). Nhưng nếu vẫn muốn mở và mở két sắt một cách hợp pháp, thì họ phải mời lực lượng bảo vệ, những người có trách nhiệm khác đến chứng kiến và xác nhận hiện trạng hoặc có thể xin ý kiến chỉ đạo của người có thẩm quyền.

Tại đầu ngày, họ cùng xác định niêm phong két sắt có còn nguyên vẹn hay không, tiếp theo họ mở két sắt Kho bạc và xác định số tiền mặt đang có trong két sắt Kho bạc tại thời điểm mở két sắt. Tại cuối ngày họ xác định số tiền mặt phát ra và thu vào trong ngày để xác định số tiền mặt có trong két sắt Kho bạc cuối ngày. Sau khi khóa két sắt Kho bạc lại thì họ tiến hành niêm phong két sắt đó lại. Các bạn hãy ghi nhớ nguyên lý két sắt kho bạc này, vì nó được vận dụng xuyên suốt quá trình phân tích nghiệp vụ tài chính kế toán liên quan đến vụ án Huyền Như.

1.2. Ranh giới trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi ngân hàng.

Bây giờ, chúng tôi trình bày đến trách nhiệm quản lý một tài khoản tiền gửi của của ngân hàng.

Đối với Ngân hàng:

Nói một cách “hình tượng”, thì ngân hàng có rất nhiều loại “két” để cất giữ tiền và tài sản tại mỗi điểm giao dịch. Và người ta quản lý nó bằng các cuốn sổ quĩ (hoặc sổ tài khoản tổng hợp và chi tiết) – Đến đây, “két” nó không còn là két sắt nữa – mà nó chính là các cuốn sổ quĩ, sổ tài khoản. Để quản lý toàn bộ các loại “két” cất gữi tiền và tài sản này, người ta sử dụng sổ cái (hay còn gọi là sổ tổng hợp tài khoản), bảng cân đối tài khoản (hay còn gọi là Bảng tổng kết tài sản), và sau cùng là các Báo cáo tài chính. Nói chung, việc mở sổ, ghi sổ, khóa sổ kế toán phải tuân thủ theo đúng qui định tại điều 25, điều 26, điều 27 của Luật kế toán (năm 2003) do Quốc Hội ban hành.

Két sắt dùng để cất giữ và bảo quản tiền mặt (tức là tiền giấy hoặc tiền kim loại) kim khí quý, đá quí. Kết thúc ngày làm việc, ngân hàng chuyển toàn bộ két sắt tại các Phòng giao dịch (Quỹ tiết kiệm) tập trung về trụ sở chi nhánh ngân hàng để cất giữ. Đầu ngày làm việc, ngân hàng chuyển các két sắt đến các Phòng giao dịch (Quỹ tiết kiệm) trực thuộc chi nhánh ngân hàng để phục vụ cho việc giao dịch tiền mặt với khách hàng.

Ngân hàng dùng sổ quĩ tiền mặt để quản lý két sắt đựng tiền mặt, dùng sổ quĩ tiền gửi để quản lý “két đựng” tiền gửi, … Nhưng, loại nào thì ngân hàng cũng phải tuân theo nguyên lý két sắt Kho bạc nêu ở phần trên, đối với sổ tiền gửi thì chuyển số dư cuối ngày hôm trước thành số dư đầu ngày giao dịch, cuối ngày giao dịch thì khóa sổ xác nhận số phát sinh tăng giảm và số dư cuối ngày (có cả phần chi tiết tới từng khách hàng). Kế toán viên giao dịch cập nhật chứng từ phát sinh vào phần mềm kế toán tin học của ngân hàng, quan hệ đối ứng tài khoản và công việc ghi sổ sẽ do phần mềm kế toán tự động cập nhật. Việc luân chuyển chứng từ, tuân theo quy trình nghiệp vụ kế toán ngân hàng, kế toán nội bộ và phụ thuộc, kế toán cấp trên và kế toán cấp dưới.

Cuối ngày, kế toán viên tại chi nhánh ngân hàng in ra sổ cái, bảng cân đối tài khoản theo từng ngày, từng tháng, quí, năm dưới sự kiểm tra giám sát tính hợp pháp, hợp lệ về số liệu và chứng từ gốc, chứng từ ghi sổ đã được lập bởi (các kế toán viên giao dịch, kế toán viên kiểm soát, kế toán viên phụ trách bộ phận kế toán chuyên môn, kế toán trưởng, giám đốc – đối với chi nhánh; hoặc kế toán viên giao dịch, kế toán viên kiểm soát, trưởng phòng của phòng giao dịch) theo qui trình nghiệp vụ về chế độ kế toán của đon vị.

Đối với khách hàng mở tài khoản tiền gửi là cá nhân và doanh nghiệp:

Ở chiều ngược lại với ngân hàng, thì các cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức (gọi tắt là khách hàng cá nhân hoặc khách hàng doanh nghiệp – bao gồm cả ngân hàng này đến giao dịch với ngân hàng khác) cũng có các loại sổ để quản lý các két tiền và tài sản của mình theo qui định của pháp luật – Trong đó, có các sổ theo dõi và hạch toán tiền gửi ngân hàng (riêng các cá nhân thì mở sổ theo dõi tiền gửi theo nhu cầu của mỗi người chứ pháp luật không bắt buộc). Doanh nghiệp dùng các chứng từ giao dịch và sổ tiền gửi để quản lý số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng – kết quả của hoạt động này là đơn phương.

Định kỳ tháng, quí, năm hoặc đột xuất khi doanh nghiệp có nhu cầu (hoặc theo qui định) thì lập bản đối chiếu các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Bản đối chiếu các tài khoản tiền gửi này do bên chủ động (có nhu cầu) lập và được cả hai bên liên quan là doanh nghiệp và ngân hàng soát xét công nhận khớp đúng, ký tên và đóng dấu bởi những người có trách nhiệm thì mới có giá trị pháp lý đầy đủ – kết quả của hoạt động này là song phương.

Riêng các cá nhân nếu có nhu cầu, thì ngân hàng sẽ cung cấp cho các bản sao kê chi tiết tài khoản tiền gửi (trực tiếp, hoặc nhận qua email đã đăng ký), hoặc đăng ký nhận kết quả giao dịch đến điện thoại bằng tin nhắn tự động (SMS) của hệ thống phần mềm tin học kế toán ngân hàng. Như vậy, ngân hàng có thể làm dịch vụ kế toán cho khách hàng cá nhân có thu phí hoặc không thu phí (nếu được hưởng khuyến mãi dịch vụ, hoặc theo thỏa thuận).

Yếu điểm: trong vụ nhân viên ngân hàng ACB và nhân viên ngân hàng Navibank gửi tiền vào ngân hàng Vietinbank. Vì là cá nhân nên họ không có nhu cầu mở sổ theo dõi tiền gửi, đối chiếu tài khoản định kỳ để hạch toán (do pháp luật không bắt buộc như đối với doanh nghiệp). Chỉ khi nào họ có yêu cầu, thì theo Luật các tổ chức tín dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm cung cấp các bản sao kê chi tiết các giao dịch trên tài khoản tiền gửi – Khi đó, ngân hàng giữ vai trò làm dịch vụ kế toán cho khách hàng cá nhân (có thu phí).

Điểm yếu của các nhân viên ACB là họ không đăng ký nhận kết quả giao dịch bằng tin báo SMS qua điện thoại (tức là họ làm việc ở ngân hàng, nhưng họ không sử dụng tiện ích hiện đại của ngân hàng). Tuy nhiên, dù là điểm yếu, nhưng cũng không đồng nghĩa là họ có lỗi – Chính sách, là khuyến khích khách hàng tham gia hỗ trợ quản lý tài khoản tiền gửi, nhưng chế độ hạch toán kế toán của Luật kế toán 2003, phân định ngân hàng là pháp nhân quản lý tài khoản tiền gửi (theo pháp luật).

Khái quát: hàng ngày, doanh nghiệp quản lý số dư tài khoản tiền gửi là quản lý bằng chứng từ giao dịch với ngân hàng (bao gồm cả giấy báo nợ và báo có của ngân hàng), được phản ánh lên hệ thống sổ sách, báo cáo của doanh nghiệp; đồng thời, định kỳ đối chiếu số liệu trên sổ sách và chứng từ phát sinh với ngân hàng để xử lý các sai lệch (nếu có).

Do đó, doanh nghiệp không có thẩm quyền quản lý tiền gửi (là tiền mặt, tiền bút toán) thuộc quyền thụ hưởng (hoặc sở hữu) của doanh nghiệp trên tài khoản tiền gửi ngân hàng – Vì, nó đang là tài sản được cất giữ ở ngân hàng, do ngân hàng quản lý thông qua dịch vụ nhận tiền gửi – loại tài sản mà ngân hàng phải hoàn trả vì có nguồn gốc là tiền gửi của doanh nghiệp.

Tức là tiền gửi của khách hàng, hình thành nên nguồn vốn cho ngân hàng, được ngân hàng hạch toán vào “nợ phải trả” trên bảng cân đối kế toán. Nên xét về nguồn gốc, nó không thuộc sở hữu của ngân hàng, mà ngân hàng chỉ làm dịch vụ giữ hộ, hoặc có quyền chiếm dụng hợp lệ để chuyển hóa thành tài sản kinh doanh và bảo đảm thanh khoản tiền mặt cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải trả phí sử dụng vốn (còn gọi là lãi suất) cho khách hàng, cũng như phải hoàn trả vốn gốc cho khách hàng. Ngân hàng phải có cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự để làm nhiệm vụ quản lý và bảo vệ loại tài sản này bao gồm: trụ sở ngân hàng, két đựng tiền, sổ sách, chứng từ, giám đốc, phòng kế toán, phòng tin học, đội bảo vệ và cả lực lượng công an làm dịch vụ bảo vệ (theo quy định của Luật kế toán 2003).

Như vậy, tài khoản tiền gửi ngân hàng (các loại) phản ánh quá trình giao dịch tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng. Số dư trên tài khoản tiền gửi (các loại) của khách hàng, thì ngân hàng có trách nhiệm giữ gìn, quản lý, bảo vệ tài sản cho khách hàng – Đồng thời, nó cũng là tài sản thuộc quyền chiếm dụng hợp pháp của ngân hàng (một loại tài sản đặc biệt của ngân hàng), vì không có nó ngân hàng có thể bị xóa xổ hoặc không thể bành trướng được – nên ngân hàng rất biết ơn những người gửi tiền, vì đó còn là đạo lý.

Chúng tôi vừa trình bày: Ranh giới trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi ngân hàng. Bất cứ qui định nào của ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tài khoản tiền gửi, mà làm cho người khác hiểu sai, giải thích sai so với nguyên lý chúng tôi vừa trình bày thì đều là sai trái cần phải được chỉnh sửa hoặc hủy bỏ, đồng thời phải chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra, nếu có.

Nhận định: Đến đây, xét theo nguyên lý kinh tế – tài chính – kế toán, chúng ta đã có đủ cơ sở kết luận là: Huyền Như có dấu hiệu chiếm đoạt tiền từ ngân hàng Vietinbank chứ không phải từ các nhân viên của ACB, Navibank hay từ các doanh nghiệp và cá nhân khác đã gửi hoặc chuyển tiền vào tài khoản mở tại Vietinbank.

Tài khoản thanh toán:

Về nguyên lý, khách hàng có thể sử dụng bất cứ tài khoản tiền gửi nào để sử dụng vào việc thanh toán. Tuy nhiên, nếu sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng, thì theo Luật các tổ chức tín dụng 1997 thường sử dụng tài khoản tiền gửi không kỳ hạn. Tiếp theo, đến Luật các tổ chức tín dụng 2010, thì nói rõ hơn:

“Điều 4. Giải thích từ ngữ. Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: …

  1. Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng”.

1.3. Qui trình mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

1.3.1. Khách hàng doanh nghiệp.

Để mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, khách hàng là doanh nghiệp cần có quyết định thành lập, điều lệ, hoặc giấy đăng ký kinh doanh. Người được khách hàng doanh nghiệp ủy nhiệm đến liên hệ mở tài khoản tiền gửi phải xuất trình giấy giới thiệu của Thủ trưởng đơn vị hoặc Giám đốc doanh nghiệp, đồng thời với việc xuất trình giấy chứng minh nhân dân. Kế toán viên giao dịch của ngân hàng hướng dẫn họ điền các thông tin theo biểu mẫu đăng ký mở tài khoản của ngân hàng. Họ có thể mang bộ hồ sơ về trụ sở cơ quan để hoàn chỉnh bộ hồ sơ bao gồm (bắt buộc) phải có là: quyết định thành lập hoặc giấy đăng ký kinh doanh (đăng ký doanh nghiệp), mẫu con dấu của doanh nghiệp, đăng ký chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng, thủ quĩ và những người được ủy quyền. Sau đó, doanh nghiệp nộp toàn bộ hồ sơ đăng ký mở tài khoản tiền gửi cho ngân hàng. Kế toán viên giao dịch của ngân hàng tiếp nhận hồ sơ, để bộ phận kế toán và lãnh đạo ngân hàng soát xét, duyệt cấp mã số tài khoản tiền gửi.

Lãnh đạo ngân hàng (cụ thể là Huyền Như hay bất cứ lãnh đạo nào), không thể tự mình cấp mã số tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm cho khách hàng được. Vì cấp mã số tài khoản tiền gửi, là thuộc nghiệp vụ của kế toán, do bộ phận kế toán quản lý – lãnh đạo (Huyền Như) chỉ có thẩm quyền phê duyệt thôi. Do đó, một mình Huyền Như không thể tự mình làm giả hồ sơ mở tài khoản tiền gửi được, mà việc này phải thông qua một qui trình nghiệp vụ ngân hàng do những người có chức trách đảm nhận, và qui trình này tuân thủ theo Luật kế toán năm 2003. Giả sử Huyền Như làm giả hồ sơ đăng ký mở tài khoản của khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân (giả chứng từ, giả con dấu và chữ ký), thì cũng không thể qua được qui trình kiểm duyệt của các kế toán viên độc lập về nghiệp vụ và chỉ tuân theo pháp luật.

Tuy nhiên, ngân hàng vẫn có thể khai triển dịch vụ mở tài khoản đến tận nhà cho khách hàng doanh nghiệp – nhưng nó vẫn phải tuân theo quy trình nghiệp vụ kế toán thích hợp, bảo đảm cơ sở pháp lý (kể cả việc sử dụng các công cụ và phương tiện như internet (email), điện thoại, … để hỗ trợ cho nghiệp vụ kế toán).

1.3.2. Khách hàng cá nhân.

Để mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, khách hàng là cá nhân cần có giấy chứng minh nhân dân; khách hàng cá nhân có thể kê khai thông tin mở tài khoản tiền gửi trên trang website của ngân hàng, sau đó mang giấy chứng minh nhân dân đến ngân hàng để hoàn tất thủ tục đăng ký chữ ký của chủ tài khoản, chữ ký của người được ủy quyền (nếu có), rất đơn giản và nhanh chóng. Cơ sở pháp lý trên chứng từ giao dịch đối với khách hàng cá nhân, đó là họ vừa ký với vai trò là chủ tài khoản đồng thời với chữ ký trong vai trò là kế toán trưởng cho chính họ, cũng đồng thời thực hiện chữ ký của người trực tiếp giao dịch. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn có thể khai triển dịch vụ mở tài khoản đến tận nhà cho khách hàng – nhưng nó vẫn phải tuân theo quy trình nghiệp vụ kế toán thích hợp, bảo đảm cơ sở pháp lý.

1.3.3. Đặc điểm chung của TK tiền gửi.

Tất cả các mẫu đăng ký chữ ký nêu trên được máy quét (scan) quét thành file pdf lên hệ thống phần mềm tin học kế toán của ngân hàng. Ở bất cứ điểm giao dịch nào trong hệ thống của ngân hàng trên toàn quốc, kế toán viên giao dịch của ngân hàng đều có thể mở file pdf này để soát xét chữ ký của khách hàng.

Khách hàng đến giao dịch tại bất cứ điểm giao dịch nào trong hệ thống của ngân hàng đều phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân. Kế toán viên giao dịch của ngân hàng sẽ photo giấy chứng minh, soát xét chữ ký để cập nhật hồ sơ giao dịch. Đồng thời, kế toán viên giao dịch phải lập ngay chứng từ kế toán phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trên tài khoản tiền gửi của khách hàng theo đúng biểu mẫu qui định (chứng từ gốc).

Khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp ở Hà nội, họ có thể mở tài khoản tiền gửi ở Vietinbank TP. HCM được (nơi huy động vốn với mức lãi suất cao và có hoa hồng). Và khi rút tiền, thì không nhất thiết phải vào TP. HCM, mà họ chỉ cần đết Vietinbank Hà Nội là rút được tiền gửi.

Điểm nhấn:

Do đặc điểm chung của tài khoản tiền gửi này (TK tiền gửi không kỳ hạn và TK tiền gửi có kỳ hạn), nên nó ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với tất cả các kế toán viên có thẩm quyền truy cập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Nó cũng ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các cán bộ quản lý tham gia duyệt lệnh giao dịch trên tài khoản tiền gửi của khách hàng – Dù, họ công tác ở địa bàn nào, thì đều phải có trách nhiệm quản lý và bảo vệ tài sản trên tài khoản tiền gửi của khách hàng mà họ có thẩm quyền truy cập, xác lập và duyệt lệnh giao dịch, hoàn tất nghiệp vụ.

Vì vậy, dù là TK tiền gửi của khách hàng “AL” mở ở Chi nhánh Vietinbank Hà Nội (ví dụ), mà Huyền Như và các kế toán viên ở Chi nhánh Vietinbank TP HCM (ví dụ) nếu truy cập vào TK tiền gửi của khách hàng “AL” để chuyển tiền trái phép – thì họ sẽ bị xử lý hình sự về tội tham ô tài sản

Hai hình thức dịch vụ tài khoản tiền gửi.

Vài năm gần đây, ngân hàng có hai hình thức dịch vụ tài khoản tiền gửi cho khách hàng lựa chọn, đó là: Tài khoản tiền gửi ngân hàng truyền thống và tài khoản tiền gửi ngân hàng điện tử (internet banking). Qui trình mở tài khoản tiền gửi ngân hàng cho hai phương thức này là giống nhau.

Nếu, ngân hàng khai triển dịch vụ giao dịch tài khoản đến tận nhà cho khách hàng – Thì, bộ phận kế toán của ngân hàng cũng phải triển khai quy trình nghiệp vụ kế toán tương ứng, bảo đảm cơ sở pháp lý (ví dụ: hình thức giao dịch qua điện thoại).

1.3.3.1. Qui trình giao dịch trên tài khoản tiền gửi truyền thống:

Nguyên tắc: ngân hàng chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ giao dịch cho khách hàng khi có lệnh của khách hàng:

– Lệnh bằng miệng trực tiếp (đối với cá nhân) và được xác thực bằng chữ ký của họ lên chứng từ gốc.

– Lệnh bằng chứng từ theo mẫu qui định (đối với doanh nghiệp và tổ chức).

– Lệnh giao dịch qua điện thoại (thực hiện theo quy trình của dịch vụ giao dịch qua điện thoại).

– Lệnh bằng chứng từ phát sinh đến từ việc sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng, hoặc ủy thác của khách hàng (chuyển khoản đi và đến, LC, hóa đơn điện nước, trả cổ tức, thanh toán tiền lương, …).

– Lệnh từ quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Việc ngân hàng tiếp nhận lệnh nó đòi hỏi phải có sự hiện diện trực tiếp của khách hàng. Trường hợp sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng, ủy thác của khách hàng, thì phải có hợp đồng giữa khách hàng với ngân hàng, và chứng từ hợp lệ của các đối tượng được ủy thác thanh toán chuyển đến. Trường hợp, lệnh giao dịch bằng chứng từ được khách hàng gửi đến qua đường bưu điện, thì phải gửi theo hình thức bảo đảm, được kế toán viên ngân hàng kiểm tra lại qua điện thoại (có ghi âm), và nó chỉ được thực hiện, nếu quy trình nghiệp vụ của ngân hàng cho phép. Trường hợp lệnh giao dịch qua điện thoại, thì phải đăng ký dịch vụ giao dịch bằng điện thoại, có mật khẩu khai báo và ghi âm.

Địa điểm giao dịch.

Đối với tài khoản tiền gửi ngân hàng truyền thống, qui trình giao dịch chỉ thực hiện tại trụ sở giao dịch của ngân hàng. Phần lớn, khách hàng phải trực tiếp đến trụ sở giao dịch của ngân hàng để ra lệnh giao dịch.

Tuy nhiên, theo hợp đồng dịch vụ ủy thác thanh toán, ngân hàng cũng thực hiện khá nhiều lệnh giao dịch mà không có sự hiện diện trực tiếp của khách hàng, khi ngân hàng nhận được chứng từ hợp lệ chuyển đến như: chứng từ thanh toán bằng chuyển khoản liên ngân hàng (đối với tài khoản thanh toán), dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, hối phiếu (L/C), hóa đơn vận tải, … cho người thụ hưởng hoặc có nghĩa vụ thanh toán bằng tài khoản tiền gửi ngân hàng.

Đồng thời, ngân hàng cũng có thể làm dịch vụ thanh toán tận nhà cho khách hàng (ngoài trụ sở của ngân hàng) – nhưng nó phải áp dụng theo quy trình nghiệp vụ kế toán tương ứng để đảm bảo tính pháp lý cho hoạt động này.

1.3.3.2. Qui trình giao dịch trên tài khoản tiền gửi internet bank:

Đối với tài khoản internet bank, qui trình giao dịch có thể thực hiện theo hai hình thức:

Một là, giống như qui trình giao dịch đối với tài khoản tiền gửi ngân hàng truyền thống.

Hai là, khách hàng có thể tự mình giao dịch trực tuyến trên trang website của ngân hàng tại bất kỳ điểm kết nối mạng internet nào cảm thấy thuận lợi nhất, an toàn nhất. Nhưng, phạm vi nghiệp vụ giao dịch thì nhỏ hẹp hơn so với giao dịch truyền thống (tùy theo các gói sản phẩm dịch vụ của ngân hàng).

Điểm nhấn:

Tài khoản internet bank là một loại hình dịch vụ tận nhà mà ngân hàng mang đến cho các khách hàng của mình – Theo đó, khách hàng giao dịch tài khoản ngoài trụ sở ngân hàng thông qua hệ thống phần mềm kế toán tin học trên trang website của ngân hàng.

1.3.3.3. Qui trình giao dịch cụ thể trên tài khoản tiền gửi truyền thống.

  1. Giao dịch đối với khách hàng là cá nhân.

– Khi nộp tiền mặt vào tài khoản tiền gửi, khách hàng trình giấy chứng minh nhân dân và ra lệnh (bằng lệnh miệng) – vì ngân hàng là doanh nghiệp làm dịch vụ thuê cho khách hàng. Kế toán viên giao dịch nhận lệnh của khách hàng và lập chứng từ nộp tiền mặt, sau đó chứng từ được chuyển qua kế toán viên kiểm soát ký duyệt (thường là kế toán viên được kế toán trưởng ủy quyền); chứng từ được luân chuyển qua thủ quĩ để thủ quĩ soát xét số tiền thực tế nộp vào khớp đúng với chứng từ và ký xác nhận. Thủ quĩ trả giấy chứng minh nhân dân cùng một liên chứng từ nộp tiền cho khách hàng. Đồng thời, thủ quĩ ghi số liệu vào sổ quĩ tiền mặt (của thủ quĩ) và hoàn trả bộ chứng từ lại cho bộ phận kế toán để theo dõi và lưu trữ theo qui định.

Khi rút tiền mặt từ tài khoản tiền gửi, thì trình tự nghiệp vụ cũng như vậy, chỉ khác là ngân hàng sẽ lập chứng từ chi tiền và chi trả tiền mặt cho khách hàng.

Ở tất cả các chứng từ nêu trên, khách hàng đã hoàn tất chữ ký của chủ tài khoản, người nộp hoặc người rút tiền.

– Khi khách hàng nộp tiền bằng chuyển khoản vào một tài khoản khác của mình, hoặc vào tài khoản của đối tượng thụ hưởng khác trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Khách hàng cũng đến ngân hàng và ra lệnh bằng miệng. Kế toán viên giao dịch sẽ nhận lệnh và lập chứng từ nộp tiền bằng chuyển khoản, đồng thời hướng dẫn khách hàng ký xác nhận. Sau đó chứng từ được chuyển qua kế toán viên kiểm soát ký duyệt, chứng từ được luân chuyển qua Trưởng phòng giao dịch ký và bộ phận kế toán cập nhật lưu trữ hồ sơ trong ngày giao dịch. Khi giao dịch hoàn thành, kế toán viên giao dịch hoàn trả giấy chứng minh nhân dân và một liên của chứng từ nộp tiền bằng chuyển khoản cho khách hàng cá nhân (hoặc luân chuyển hồ sơ, chứng từ qua thủ quĩ để hoàn trả theo qui trình nội bộ).

Khi rút tiền gửi bằng chuyển khoản, trình tự nghiệp vụ cũng giống như khi nộp tiền bằng chuyển khoản.

Ví dụ 1: Khi nhân viên ACB chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của họ ở ngân hàng ACB qua tài khoản tiền gửi của họ ở ngân hàng Vietinbank. Thì họ cũng phải đến Phòng giao dịch của ACB để ra lệnh cho kế toán viên giao dịch của ACB thực hiện dịch vụ chuyển tiền. Hoặc ngân hàng ACB có thể cấp thẳng khoản tiền ủy thác vào tài khoản của nhân viên ACB mở tại Vietinbank.

Kế toán viên giao dịch của ACB sẽ lập chứng từ chuyển tiền, mẫu chứng từ này được thiết kế cho những người có trách nhiệm của ba chủ thể soát xét và ký tên, gồm: chủ tài khoản chuyển tiền ký, ngân hàng ACB ký, ngân hàng Vietinbank ký. Ngày nay còn có hình thức thanh toán liên ngân hàng, thanh toán bù trừ qua ngân hàng Nhà nước trực tuyến (online), thì phát sinh thêm hình thức chứng từ điện tử, cũng được công nhận là chứng từ kế toán. Loại chứng từ trung gian này có thể có chữ ký điện tử hoặc không có chữ ký.

Khi nhận được chứng từ chuyển tiền từ nguồn của ACB (do NHNN chuyển đến), kế toán viên của ngân hàng Vietinbank sẽ ghi bút toán số tiền chuyển đến vào bên có tài khoản tiền gửi ngân hàng của nhân viên ACB mở tại Vietinbank.

Điểm nhấn:

Trong bất cứ trường hợp nào, thì các nhân viên ACB cũng phải mở tài khoản tiền gửi tại Vietinbank trước rồi mới chuyển tiền vào các tài khoản này được. Đặc biệt, không bao giờ xảy ra trường hợp chuyển tiền trước khi mở tài khoản như Bảo Ngọc và Huyền Như đã dẫn dắt các cán bộ tố tụng hình sự.

Từ thời điểm này, nếu nhân viên ACB không ra lệnh giao dịch, thì tiền vẫn còn nguyên trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của họ tại Vietinbank. Nếu nhân viên ACB không ra lệnh, mà tiền vẫn được rút ra để mở mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm (có sổ tiết kiệm), hoặc bị rút chuyển khoản tiền đi nơi khác – thì trách nhiệm trước hết thuộc về bộ máy kế toán của ngân hàng Vietinbank.

Ví dụ 2: khi rút tiền từ tài khoản không kỳ hạn (tức là tài khoản thanh toán) để gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn, tùy theo sự thông thạo về nghiệp vụ mà kế toán viên có thể thực hiện theo hai cách:

Cách thứ nhất: kế toán viên giao dịch lập chứng từ chi tiền mặt từ tài khoản không kỳ hạn, đồng thời lập chứng từ nộp tiền mặt vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn, cũng đồng thời mở sổ tiết kiệm có kỳ hạn cho khách hàng. Sau đó chứng từ được luân chuyển qua kế toán viên kiểm soát và Trưởng phòng giao dịch ký duyệt, chứng từ được luân chuyển qua thủ quĩ. Trong trường hợp này, khách hàng và thủ quĩ sẽ ký thanh toán bù trừ trên chứng từ chi và chứng từ nộp tiền. Thủ quĩ trả giấy chứng minh nhân dân cùng chứng từ chi tiền, nộp tiền cùng với sổ tiết kiệm cho khách hàng. Đồng thời, thủ quĩ ghi số liệu vào sổ quĩ tiền mặt (của thủ quĩ) và hoàn trả bộ chứng từ lại cho bộ phận kế toán để hạch toán, theo dõi và lưu trữ theo qui định.

Cách thứ hai: kế toán viên giao dịch lập chứng từ rút tiền bằng chuyển khoản theo hình thức ủy nhiệm chi, tức là rút tiền từ tài khoản không kỳ hạn và đồng thời chuyển tiền này vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cho khách hàng, cũng đồng thời mở sổ tiết kiệm có kỳ hạn cho khách hàng. Sau đó, chứng từ được chuyển qua kế toán viên kiểm soát và Trưởng phòng giao dịch ký duyệt, chứng từ được luân chuyển qua thủ quĩ để hoàn trả hồ sơ cho khách hàng.

Chứng từ giao dịch tiền mặt, phải có đầy đủ chữ ký của 5 người hoặc 7 người theo trình tự gồm: Kế toán viên giao dịch, Khách hàng (nếu khách hàng là pháp nhân, thì phải bao gồm có đủ 3 chữ ký của Chủ tài khoản và Kế toán trưởng đơn vị, Người nhận tiền, và con dấu của pháp nhân đó), Kế toán trưởng (hoặc kế toán viên được ủy quyền – có khi gọi là kế toán viên kiểm soát, hoặc phụ trách kế toán), Trưởng phòng giao dịch, Thủ quĩ (thủ quĩ đồng thời cho khách hàng ký trên bảng kê tiền theo từng loại mệnh giá).

Chứng từ giao dịch tiền bằng chuyển khoản, phải có đầy đủ chữ ký của 4 người hoặc 6 người theo trình tự gồm: kế toán viên giao dịch, khách hàng (nếu khách hàng là pháp nhân, thì phải bao gồm có đủ 2 chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng đơn vị, và con dấu của pháp nhân đó), Kế toán trưởng (hoặc kế toán viên được ủy quyền – có khi gọi là kế toán viên kiểm soát, hoặc phụ trách kế toán), Trưởng phòng giao dịch.

Sổ tiết kiệm, phải có đầy đủ 3 chữ ký của 3 người có trách nhiệm khác nhau gồm: chữ ký của Trưởng phòng giao dịch (hoặc Trưởng quỹ tiết kiệm, hoặc giám đốc chi nhánh) có đóng dấu của ngân hàng, chữ ký xác nhận của kế toán viên giao dịch và kế toán viên kiểm soát trên dòng số liệu phát sinh giao dịch. Sau đó, mỗi liên chứng từ giao dịch, sổ tiết kiệm, giấy chứng minh nhân dân được luân chuyển qua quầy thủ quĩ để giao trả cho khách hàng theo qui trình nội bộ.

Điểm nhấn:

Theo các cách thức hợp pháp và hợp lệ, thì sổ tiết kiệm theo truyền thống trước đây, thực chất chỉ là một giấy xác nhận tài khoản tiền gửi có kỳ hạn được ngân hàng trao cho người gửi tiền nắm giữ để làm bằng chứng (có tính chất tượng trưng về mặt tâm lý). Về sau này, sổ tiết kiệm được coi như là giấy tờ có giá có thể mua bán được, dùng để cầm cố được. Cho nên, việc mất sổ tiết kiệm không thể coi là bị mất tiền. Hoặc kẻ ăn cắp hoặc chiếm đoạt sổ tiết kiệm cũng không thể rút tiền được (như mọi người thường nghĩ đơn giản như vậy) – vì đó là các hành vi không hợp pháp và không hợp lệ.

Trên sổ tiết kiệm cũng có thiết kế vị trí cho khách hàng ký, nhưng thường thì ngân hàng không yêu cầu khách hàng phải ký như là một qui trình bắt buộc, nên khách hàng thường để trống.

Qui trình lập và cấp sổ tiết kiệm này cho chúng ta thấy, Huyền Như không thể tự mình lập và cấp sổ tiết kiệm được. Vì lãnh đạo ngân hàng (cụ thể là Huyền Như), không thể tự mình cấp mã số tài khoản tiền gửi tiết kiệm cho khách hàng được. Vì cấp mã số tài khoản tiền gửi tiết kiệm, là thuộc nghiệp vụ của kế toán, do bộ phận kế toán quản lý. Do đó, Huyền Như cũng không thể làm giả sổ tiết kiệm để thế chấp vay tiền của Vietinbank được. Như vậy, tại sao Huyền Như lại có trong tay các sổ tiết kiệm thật đứng tên các nhân viên của ngân hàng ACB (mời các bạn xem mục B.III. Mô phỏng hành vi của Huyền Như ở trên). Lập luận này, căn cứ vào lời khai của cán bộ tín dụng, họ đã kiểm tra các sổ tiết kiệm này có trong hệ thống của Vietinbank, và Vietinbank đã tự ý tất toán trái pháp luật các tài khoản tiết kiệm (kèm các sổ tiết kiệm này) – Ở đây, nó khác với trường hợp sổ tiết kiệm giả trong vụ án Vũ Thanh Tùng (đã trích dẫn ở các phần trên).

Tất cả các chứng từ luân chuyển nêu trên, tùy theo hạn mức phân quyền hoặc qui trình nội bộ mà Trưởng phòng giao dịch có thể ký duyệt chứng từ trước khi chuyển qua thủ quĩ hoặc sau khi thủ quĩ hoàn trả chứng từ cho bộ phận kế toán.

– Khi khách hàng cá nhân nhận tiền thanh toán bằng chuyển khoản từ các đối tác khác chuyển đến, ngân hàng sẽ ghi vào bên có của tài khoản tiền gửi của khách hàng (làm cho số dư trên tài khoản tăng lên).

Trong tất cả các trường hợp phát sinh trên tài khoản tiền gửi của khách hàng cá nhân, nếu có đăng ký nhận kết quả giao dịch bằng tin nhắn SMS trên điện thoại di động, thì khách hàng sẽ nhận được thông tin kết quả giao dịch tức thì qua SMS. Nếu khách hàng cá nhân có đăng ký nhận bản sao kê giao dịch, thì ngân hàng sẽ cung cấp bản sao kê theo yêu cầu của khách hàng (dịch vụ kế toán của ngân hàng cho khách hàng cá nhân, có thu phí hoặc được khuyến mãi).

Tất cả quá trình lập chứng từ kế toán phản ánh các giao dịch kinh tế tài chính phát sinh trên tài khoản tiền gửi, được các kế toán viên cập nhật vào phần mềm kế toán tin học của ngân hàng; phần mềm này sẽ tự động ghi sổ theo quan hệ tài khoản đối ứng. Đến cuối ngày, từ phần mềm tin học kế toán, kế toán viên của ngân hàng phải in ra thành loại sổ đóng bằng giấy tốt và chuyển cho những người có trách nhiệm soát xét và ký tên theo đúng qui định tại điều 25, điều 26, điều 27 của Luật kế toán (năm 2003) do Quốc Hội ban hành.

Nguyên tắc nhất quán là: phải có người thực, việc thực (hợp pháp và hợp lệ) thì mới làm phát sinh nghiệp vụ kinh tế. Do đó, khi khách hàng không ra lệnh giao dịch, hoặc khi không có chứng từ yêu cầu thanh toán hoặc thụ hưởng hợp lệ theo hợp đồng ủy thác thanh toán (tức là chủ tài khoản có trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng khác theo nghĩa vụ hoặc cam kết thông qua dịch vụ ngân hàng; hoặc tài khoản của khách hàng được thụ hưởng từ các tài khoản khác chuyển đến) đã được các kế toán viên soát xét; thì không có bất cứ phát sinh nào trên tài khoản tiền gửi của khách hàng. Vì vậy, số dư trên tài khoản tiền gửi ngân hàng phải còn nguyên vẹn.

  1. Giao dịch đối với khách hàng là doanh nghiệp.

Trình tự nghiệp vụ trên tài khoản tiền gửi ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp cũng giống như đối với khách hàng cá nhân, chỉ khác là:

Trong khi khách hàng cá nhân ra lệnh bằng miệng, thì khách hàng là doanh nghiệp phải ra lệnh bằng văn bản hoặc chứng từ theo mẫu biểu qui định.

Khi doanh nghiệp cử nhân viên (kế toán, thủ quĩ) đến ngân hàng giao dịch thì phải xuất trình giấy giới thiệu của thủ trưởng doanh nghiệp, giấy chứng minh nhân dân của người được giới thiệu, và thường thì người này cũng đã đăng ký chữ ký tại ngân hàng.

Theo qui định tại điều 17, điều 19, điều 20 của Luật kế toán (năm 2003) của Quốc Hội ban hành thì, khi giao dịch tiền mặt hay chuyển khoản trên tài khoản tiền gửi ngân hàng, doanh nghiệp phải lập chứng từ kế toán theo biểu mẫu qui định. Trên chứng từ phải ghi rõ nội dung, số tiền bằng số và bằng chữ phải khớp đúng (cả về mặt ngữ pháp). Chứng từ phải có chữ ký và đóng dấu của chủ tài khoản doanh nghiệp, chữ ký của kế toán trưởng doanh nghiệp. Kế toán viên giao dịch của ngân hàng nhận lệnh và soát xét về hình thức chứng từ, nội dung chứng từ, đối chiếu với mẫu dấu, mẫu chữ ký đã đăng ký tại ngân hàng. Ngân hàng ký duyệt chứng từ (phần ký tên trên chứng từ dành cho ngân hàng, cũng bao gồm chữ ký của 4 người là trưởng phòng giao dịch, kế toán viên kiểm soát, kế toán viên giao dịch, hoặc thủ quĩ (trong trường hợp giao dịch bằng tiền mặt).

Các trường hợp doanh nghiệp đến giao dịch tiền mặt hay bằng chuyển khoản thì giấy (báo nợ hoặc báo có) chính là chứng từ giao dịch do doanh nghiệp lập đã được ngân hàng duyệt. Mỗi một giao dịch được doanh nghiệp lập chứng từ thành 3 liên (hoặc 4 liên) để đáp ứng nhu cầu sử dụng chứng từ hạch toán cho các bên liên quan.

– Khi khách hàng doanh nghiệp nhận tiền thanh toán, tạm ứng, thụ hưởng bằng chuyển khoản từ các đối tác khác chuyển đến, ngân hàng sẽ ghi vào bên có tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp. Đồng thời ngân hàng lập chứng từ (giấy báo có) gửi cho doanh nghiệp vì doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng từ (phải biết) để hạch toán kế toán.

Nếu doanh nghiệp thực hiện việc thanh toán cho các nghĩa vụ của mình với các đối tác khác, thông qua dịch vụ của ngân hàng, thì ngân hàng sẽ lập chứng từ (giấy báo nợ) gửi cho doanh nghiệp khi có phát sinh nghiệp vụ.

Trường hợp doanh nghiệp biết rõ các giao dịch chuyển khoản này từ phía đối tác, thì doanh nghiệp sẽ chủ động đến ngân hàng lấy chứng từ (vì thời giờ còn quí hơn vàng, nên cần phải nhanh chóng, kịp thời).

Điểm nhấn: Trong trường hợp ngân hàng triển khai dịch vụ tận nhà cho khách hàng và doanh nghiệp, thì nghiệp vụ kế toán cũng phải thích ứng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp ngân hàng không triển khai dịch vụ tận nhà cho khách hàng và doanh nghiệp, thì việc Huyền Như lập giả chứng từ, ký giả chữ ký và đóng con dấu giả của doanh nghiệp để rút tiền bằng chuyển khoản, thì hậu quả này Bộ phận kế toán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Và suy đến cùng thì Ngân hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

1.3.4. Mở và giao dịch trên tài khoản tiền gửi internet bank.

Trong vài năm vừa qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cao nói chung và công nghệ tin học hiện đại nói riêng, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cũng đã triển khai dịch vụ internet bank dành cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.

Qui trình mở tài khoản internet bank cũng giống như qui trình mở tài khoản tiền gửi ngân hàng (theo hình thức giao dịch trực tiếp tại điểm giao dịch của ngân hàng). Khách hàng được ngân hàng cấp cho mã số đăng nhập và mật khẩu để truy cập vào tài khoản internet bank. Hệ thống phần mềm kế toán tin học online cho phép khách hàng có thể thay đổi mã số đăng nhập và mật khẩu truy cập.

Khách hàng có thể chọn 2 hình thức để giao dịch trên tài khoản internet bank:

Một là: khách hàng trực tiếp đến phòng (quầy) giao dịch của ngân hàng và ra lệnh cho kế toán viên giao dịch của ngân hàng thực hiện dịch vụ tiền mặt hoặc chuyển khoản cho khách hàng.

Trong phạm vi rộng, thì hình thức các nghiệp vụ giao dịch trên tài khoản truyền thống, mặc nhiên áp dụng được cho tài khoản internet bank (xem ở phần 1.3.3.3 nêu trên).

Hai là: trong phạm vi hẹp, khách hàng tự giao dịch trực tuyến trên trang website của ngân hàng (nơi mở tài khoản) theo hình thức chuyển khoản như: nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, thanh toán, mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn (mở sổ tiết kiệm, tất toán sổ tiết kiệm). Nếu mở sổ tiết kiệm online thì ngân hàng không in sổ tiết kiệm cho khách hàng. Khách hàng điền nội dung, số tiền, chọn tài khoản nguồn của mình, tên và tài khoản thụ hưởng. Phần mềm kế toán tin học trực tuyến của ngân hàng sẽ soát xét dữ liệu. Nếu soát xét thấy phù hợp, hệ thống giao dịch trực tuyến của ngân hàng sẽ gửi đến khách hàng mã OTP (hoặc một số phương thức mật mã khác) cho khách hàng dùng để xác nhận giao dịch (mã OTP được gửi bằng SMS đến số điện thoại, hoặc gửi đến email mà khách hàng đã đăng ký với ngân hàng).

Ở hình thức giao dịch trực tuyến này, khách hàng thực hiện nghiệp vụ giao dịch cũng giống như một kế toán viên giao dịch của ngân hàng (tức là khách hàng có biết sơ bộ một số nghiệp vụ kế toán đơn giản của ngân hàng).

Ưu điểm của hình thức giao dịch qua tài khoản internet bank, là khách hàng có hiểu biết sơ bộ về nghiệp vụ kế toán ngân hàng. Tài khoản internet bank còn được bảo vệ qua 4 lớp là tên đăng nhập, mật khẩu đăng nhập, mã chống phần mềm robot (mã an toàn), và chốt chặn sau cùng là mã OTP mà chỉ người sở hữu số điện thoại hoặc email đã đăng ký với ngân hàng mới nhận được.

Ngoài ra, khách hàng có thể cập nhật kết quả giao dịch trực tuyến bất cứ lúc nào để soát xét số dư trên tài khoản tiền gửi. Hoặc cũng có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp các bản sao kê chi tiết bằng văn bản (dịch vụ kế toán).

Tuy nhiên, nhược điểm của internet bank cũng có nhưng hiếm khi xảy ra, như: lỗi do phần mềm tin học kế toán trực tuyến của ngân hàng; hoặc bị tin tặc tấn công gây ra rối loạn hệ thống; hoặc lỗi do khách hàng thao tác sai, chuyển tiền sai địa chỉ người thụ hưởng cũng gây ra rủi ro.

Và đặc biệt, chỉ cần có số chứng minh nhân dân của khách hàng thì nhân viên ngân hàng sẽ truy cập được vào tài khoản internet bank của khách hàng để thực hiện các giao dịch như trên tài khoản tiền gửi truyền thống theo lệnh trực tiếp của khách hàng. Đến đây, tài khoản internet bank của khách hàng cũng gặp rủi ro như tài khoản tiền gửi truyền thống, rủi ro này đến từ phía nhân viên ngân hàng và các tin tặc (giống như vụ án Vũ Thanh Tùng):

Vũ Thanh Tùng vốn giữ chức Phó trưởng Phòng khách hàng, kiêm Trưởng quỹ tiết kiệm Long Biên của một ngân hàng từ năm 2011. Khi khách hàng mở tài khoản không kỳ hạn, Vũ Thanh Tùng đã tự ý kích hoạt tính năng tài khoản internet bank – nhưng không báo cho khách hàng biết. Khi khách hàng chuyển tiền vào tài khoản không kỳ hạn, Vũ Thanh Tùng đã lập sổ tiết kiệm giả giao cho khách hàng. Sau đó Vũ Xuân Tùng dùng tính năng của tài khoản internet bank để chiếm đoạt hơn 24,7 tỷ đồng của các khách hàng.

(Nguồn trích dẫn: “Đặt bẫy” khách hàng gửi tiền ngân hàng, chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng; bài báo của phóng viên Lê Tú; cập nhật 26/11/2014 – 06:51; đăng trên dantri.com.vn/kinh-doanh/dat-bay-khach-hang-gui-tien-ngan-hang-chiem-doat-gan-25-ty-dong-999859.htm).

Một ưu điểm chung của tài khoản tiền gửi truyền thống và tài khoản internet bank, là khách hàng đăng ký nhận tin nhắn SMS báo kết quả giao dịch qua điện thoại, thì sẽ biết được ngay tức thì kết quả giao dịch trên tài khoản tiền gửi.

Tuy nhiên, công việc cài đặt mở hoặc tắt chế độ SMS qua điện thoại là do kế toán viên giao dịch thực hiện theo yêu cầu của khách hàng. Nếu kế toán viên giao dịch đơn phương tắt chế độ SMS qua điện thoại, thì rủi ro lại xảy ra từ phía ngân hàng.

Cho nên, các điều tra viên và các cơ quan tố tụng nghe theo lời của Huyền Như và Vietinbank để qui kết các khách hàng phải tự quản lý số dư trên tài khoản tiền gửi ngân hàng. Từ đó dẫn đến hệ quả qui kết tiếp theo: nếu để tiền trên tài khoản tiền gửi ngân hàng thất thoát thì khách hàng phải chịu trách nhiệm. Đây đúng là những lập luận mơ hồ của những kẻ bị quẫn trí đến “đỉnh cao ngu muội” nhất mà vẫn có một số người có thẩm quyền nghe theo.

  1. NHỮNG CƠ SỞ ĐƯƠNG NHIÊN CỦA PHÁP LUẬT.

Luật các tổ chức tín dụng 1997:

“Điều 86. Hạch toán, tổ chức tín dụng phải thực hiện hạch toán theo hệ thống tài khoản, chế độ chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

Điều 101. Thông tin cho chủ tài khoản, tổ chức tín dụng phải thông tin định kỳ cho chủ tài khoản về những giao dịch và số dư trên tài khoản của họ tại tổ chức tín dụng”.

Luật các tổ chức tín dụng 2010:

“Điều 13. Cung cấp thông tin

  1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin cho chủ tài khoản về giao dịch và số dư trên tài khoản của chủ tài khoản theo thỏa thuận với chủ tài khoản. …”

“Điều 138. Hạch toán, kế toán, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện hạch toán, kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán”.

Luật kế toán 2003:

Ở phần trên, chúng tôi đã trình bày việc lập chứng từ kế toán để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trên tài khoản tiền gửi của khách hàng; ngân hàng và các bên liên quan phải chấp hành qui định tại điều 17, điều 19, điều 20 của Luật kế toán năm 2003 của Quốc Hội ban hành. Tiếp tục, trích dẫn cụ thể một vài điều khoản cần tra cứu:

“Điều 14. Các hành vi bị nghiêm cấm . … -> 6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn đe dọa, trù dập người làm kế toán trong việc thực hiện công việc kế toán. -> 7. Người có trách nhiệm quản lý, điều hành đơn vị kế toán kiêm làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ hoặc mua, bán tài sản, trừ doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể. -> 8. Bố trí người làm kế toán, người làm kế toán trưởng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 và Điều 53 của Luật này. -> 9. Các hành vi khác về kế toán mà pháp luật nghiêm cấm.

Điều 15. Giá trị của tài liệu, số liệu kế toán -> 1. Tài liệu, số liệu kế toán có giá trị pháp lý về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán và được sử dụng để công bố công khai theo quy định của pháp luật. -> 2. Tài liệu, số liệu kế toán là cơ sở để xây dựng và xét duyệt kế hoạch, dự toán, quyết toán, xem xét, xử lý vi phạm pháp luật.

Điều 16. Trách nhiệm quản lý, sử dụng, cung cấp thông tin, tài liệu kế toán -> 1. Đơn vị kế toán có trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản và lưu trữ tài liệu kế toán. -> 2. Đơn vị kế toán có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu kế toán kịp thời, đầy đủ, trung thực, minh bạch cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Nội dung chứng từ kế toán -> 1. Chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây: -> a) Tên và số hiệu của chứng từ kế toán; -> b) Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán; -> c) Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán; -> d) Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán; -> đ) Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; ->e) Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ; -> g) Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán. -> 2. Ngoài những nội dung chủ yếu của chứng từ kế toán quy định tại khoản 1 Điều này, chứng từ kế toán có thể có thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ.

Điều 18. Chứng từ điện tử -> 1. Chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi có các nội dung quy định tại Điều 17 của Luật này và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. -> 2. Chính phủ quy định chi tiết về chứng từ điện tử.

Điều 19. Lập chứng từ kế toán -> 1. Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vị kế toán đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính. -> 2. Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo nội dung quy định trên mẫu. Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có quy định mẫu thì đơn vị kế toán được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải có đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 17 của Luật này. ->3. Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo; chứng từ bị tẩy xóa, sửa chữa đều không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán. Khi viết sai vào mẫu chứng từ kế toán thì phải huỷ bỏ bằng cách gạch chéo vào chứng từ viết sai. -> 4. Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên quy định. Trường hợp phải lập nhiều liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung các liên phải giống nhau. Chứng từ kế toán do đơn vị kế toán quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán. -> 5. Người lập, người ký duyệt và những người khác ký tên trên chứng từ kế toán phải chịu trách nhiệm về nội dung của chứng từ kế toán. -> 6. Chứng từ kế toán được lập dưới dạng chứng từ điện tử phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và khoản 1, khoản 2 Điều này. Chứng từ điện tử phải được in ra giấy và lưu trữ theo quy định tại Điều 40 của Luật này.

Điều 20. Ký chứng từ kế toán -> 1. Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải được ký bằng bút mực. Không được ký chứng từ kế toán bằng mực đỏ hoặc đóng dấu chữ ký khắc sẵn. Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất. -> 2. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải do người có thẩm quyền hoặc người được uỷ quyền ký. Nghiêm cấm ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký. -> 3. Chứng từ kế toán chi tiền phải do người có thẩm quyền ký duyệt chi và kế toán trưởng hoặc người được uỷ quyền ký trước khi thực hiện. Chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên. -> 4. Chứng từ điện tử phải có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật”.

“Điều 22. Quản lý, sử dụng chứng từ kế toán -> 1.Thông tin, số liệu trên chứng từ kế toán là căn cứ để ghi sổ kế toán. -> 2. Chứng từ kế toán phải được sắp xếp theo nội dung kinh tế, theo trình tự thời gian và bảo quản an toàn theo quy định của pháp luật. -> 3. Chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền tạm giữ, tịch thu hoặc niêm phong chứng từ kế toán. Trường hợp tạm giữ hoặc tịch thu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải sao chụp chứng từ bị tạm giữ, bị tịch thu và ký xác nhận trên chứng từ sao chụp; đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số lượng từng loại chứng từ kế toán bị tạm giữ hoặc bị tịch thu và ký tên, đóng dấu. -> 4. Cơ quan có thẩm quyền niêm phong chứng từ kế toán phải lập biên bản, ghi rõ lý do, số lượng từng loại chứng từ kế toán bị niêm phong và ký tên, đóng dấu”.

Thông tư số 103/2005/TT-BTC, ngày 24/11/2005 của Bộ Tài chính: “Hướng dẫn tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”.

Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP, ngày 29/12/2006 về “giao dịch bảo đảm”:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: … -> 9. Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch. ->10. Tài sản được phép giao dịch là tài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm

Điều 4. Tài sản bảo đảm -> 1. Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch. -> 2. … 4. … ‘

“Điều 19. Quyền của bên nhận cầm cố trong trường hợp nhận cầm cố vận đơn, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá -> 1. … 2. Trong trường hợp nhận cầm cố thẻ tiết kiệm thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong toả tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố. -> 3. …”

Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11, ngày 29/11/2005 của Quốc hội như sau:

“Điều 70. Nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng

  1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.
  2. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.
  3. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.
  4. Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày xong các nguyên lý về nghiệp vụ và những cơ sở đương nhiên của pháp luật cần tra cứu, để phân định đúng sai trong vụ án Huyền Như – Và nội dung, mối liên hệ đến vụ án Huyền Như trong vụ án bầu Kiên (ACB). Tất cả các qui định của ngân hàng Nhà nước về chế độ kế toán ngân hàng, về tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán đều không được sai trái với Luật kế toán (năm 2003) do Quốc hội ban hành. Và đương nhiên, Luật kế toán cũng không được trái với nguyên lý tài chính – kế toán, mà còn có nhiệm vụ phản ánh khách quan nguyên lý tài chính – kế toán. Nắm được các kiến thức cơ bản về kinh tế, tài chính nói riêng và pháp luật nói chung này – Các bạn mới buộc được các cơ quan tố tụng hình sự Việt Nam phải sửa sai, nhằm giải oan cho những người vô tội đang bị giam cầm trong các nhà tù ở Việt Nam.

Chúng tôi không có điều kiện để trình bày cặn kẽ tất cả vấn đề cụ thể còn lại khác (trong vụ án Huyền Như), nhưng đã cố gắng trình bày cách thức giải quyết một vài sự việc điển hình cụ thể. Căn cứ vào các sự việc điển hình mà chúng tôi trình bày, các bạn quan tâm có thể đề xuất giải quyết những sự việc cụ thể khác (tương tự) mà các bạn quan tâm. Xin trân trọng cảm ơn.

TB: Các bạn có thể xem tiếp bản báo cáo kỳ 2, kỳ 3 của chúng tôi.

Bài này phản ánh quan điểm riêng của tác giả, không phản ánh quan điểm của trang Ba Sàm.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: